Tổng quan nghiên cứu

Kinh tế thành phố Bắc Ninh trong giai đoạn 2015 - 2017 duy trì tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm xã hội bình quân gần 12%/năm, trong đó giá trị sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp tăng 15,4% và tổng mức lưu chuyển hàng hóa dịch vụ tăng 13,1%. Hòa cùng nhịp độ phát triển chung của toàn đô thị, phường Vũ Ninh với diện tích tự nhiên 620,3 ha (tương đương 6,2 km²) và quy mô dân số 12.867 người đã chứng kiến sự mở rộng nhanh chóng của khu vực kinh tế cá thể. Số lượng cơ sở kinh doanh cá thể trên địa bàn tăng từ 739 hộ năm 2015 lên 916 hộ năm 2017, đóng góp tích cực vào mức tăng trưởng thu ngân sách bình quân 20,5%/năm của phường.

Mặc dù quy mô phát triển liên tục mở rộng, khu vực hộ kinh doanh tại phường Vũ Ninh phải đối mặt với nhiều rào cản nội tại. Phần lớn các hộ hoạt động với quy mô vốn nhỏ, công nghệ và máy móc thiết bị còn thô sơ, chủ yếu dừng lại ở khâu sơ chế và gia công với giá trị gia tăng thấp. Năng lực quản trị chiến lược, tay nghề lao động và công tác bảo vệ môi trường làng nghề chưa được đầu tư đúng mức, dẫn đến thực trạng 43,7% hộ thương mại và 37,21% hộ khách sạn - nhà hàng gặp thua lỗ trong năm 2017.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản trị kinh doanh của tác giả Đàm Hoàng Lan Hương, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Bùi Thị Nga tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam (2018), tập trung phân tích thực trạng hiệu quả sản xuất kinh doanh của các hộ cá thể giai đoạn 2015 - 2017. Nghiên cứu xác lập hệ thống giải pháp khoa học nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, tối ưu hóa các chỉ số sinh lời trên vốn và doanh thu, thúc đẩy chuyển đổi mô hình kinh tế cá thể sang doanh nghiệp bền vững tại địa phương.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Cơ sở lý luận của đề tài được xây dựng trên định nghĩa pháp lý tại Điều 49 Nghị định số 43/2010/NĐ-CP của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp. Theo đó, hộ kinh doanh do một cá nhân, nhóm người hoặc hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm duy nhất, sử dụng không quá 10 lao động, không có con dấu pháp nhân và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản dân sự của mình đối với mọi hoạt động sản xuất kinh doanh.

Khái niệm hiệu quả kinh tế được tiếp cận theo quan điểm của Trương Hòa Bình và Võ Thị Tuyết (2017), phản ánh trình độ khai thác các nguồn lực sản xuất thông qua hàm tương quan H = K/C, trong đó K là kết quả đầu ra đo bằng giá trị và C là toàn bộ chi phí nguồn lực đầu vào. Đề tài mở rộng đánh giá hiệu quả trên ba trụ cột gắn kết chặt chẽ: hiệu quả kinh tế (tối đa hóa lợi nhuận), hiệu quả xã hội (giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập lao động, nộp ngân sách) và hiệu quả môi trường (tuân thủ nghĩa vụ thuế, phí bảo vệ môi trường theo Nghị định số 67/2011/NĐ-CP và Luật Thuế Bảo vệ Môi trường).

Nghiên cứu vận dụng mô hình 5 áp lực cạnh tranh của Michael Porter (1996) để nhận diện bối cảnh kinh doanh của hộ cá thể thông qua các yếu tố: khách hàng, nhà cung ứng, đối thủ cạnh tranh hiện tại, sản phẩm thay thế và đối thủ tiềm ẩn. Hệ thống chỉ tiêu tài chính cốt lõi gồm có tỷ suất lợi nhuận trên tổng vốn (ROK), tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE), tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu thuần (ROR), tỷ suất thuế trên tổng vốn (ROT) và thu nhập bình quân của người lao động (AIL).

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ báo cáo thống kê kinh tế - xã hội của UBND phường Vũ Ninh, Cục Thống kê tỉnh Bắc Ninh và các văn kiện chính sách giai đoạn 2015 - 2017. Nguồn dữ liệu sơ cấp được tác giả thực hiện trực tiếp thông qua điều tra bảng hỏi tại hội thảo chuyên đề và khảo sát thực địa trong năm 2017.

Từ tổng thể 916 hộ kinh doanh đang hoạt động trên địa bàn, tác giả áp dụng công thức chọn mẫu Slovin với mức sai số cho phép e = 10% để xác định cỡ mẫu tối thiểu là 90 hộ. Nhằm tăng cường độ tin cậy và tính đại diện, cỡ mẫu thực tế được mở rộng thành 100 hộ kinh doanh, phân bổ theo phương pháp phân tầng ngẫu nhiên tương ứng với tỷ trọng các ngành nghề: 44 hộ thương mại (chiếm 44%), 35 hộ công nghiệp (chiếm 35%), 9 hộ khách sạn - nhà hàng (chiếm 9%), 5 hộ dịch vụ khác (chiếm 5%), 4 hộ vận tải kho bãi (chiếm 4%) và 3 hộ xây dựng (chiếm 3%).

Toàn bộ dữ liệu khảo sát được kiểm tra tính logic, mã hóa và xử lý trên phần mềm Microsoft Excel. Đề tài kết hợp phương pháp thống kê mô tả (tính số tuyệt đối, số tương đối, số bình quân) và phương pháp so sánh đối chiếu đa chiều giữa các chu kỳ năm nhằm phản ánh chính xác biến động nguồn vốn, doanh thu, lợi nhuận và mức độ sinh lợi của từng nhóm ngành kinh doanh.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy mô cơ sở và năng lực huy động vốn có sự gia tăng nhanh chóng. Số lượng hộ kinh doanh tại phường Vũ Ninh tăng từ 739 hộ năm 2015 lên 916 hộ năm 2017, đạt mức tăng trưởng bình quân 11,34%/năm. Vốn kinh doanh bình quân trên một hộ tăng từ 1.100 triệu đồng năm 2015 lên 1.908 triệu đồng năm 2017, tương đương mức tăng bình quân 32,60%/năm. Tổng vốn kinh doanh toàn phường năm 2017 đạt 57.675 triệu đồng, tăng 31,2% so với năm 2016. Cơ cấu nguồn vốn năm 2017 ghi nhận vốn chủ sở hữu chiếm 44,13%, trong khi nợ phải trả chiếm 55,87%. Khảo sát 100 hộ cho thấy 45% hộ tiếp cận vốn thông qua vay mượn từ người thân, bạn bè.

Thứ hai, cơ cấu tài sản và năng lực tạo doanh thu có sự phân hóa rõ nét. Có tới 85% hộ kinh doanh có tỷ trọng tài sản cố định nhỏ hơn tài sản lưu động, phản ánh tính chất sản xuất gia công nhỏ lẻ. Doanh thu thuần toàn địa bàn năm 2017 đạt 17.273 triệu đồng, gấp 2,3 lần năm 2015, đạt tốc độ tăng bình quân 51,39%/năm. Ngành thương mại có tốc độ tăng doanh thu cao nhất đạt 96,31%/năm, trong khi ngành công nghiệp chiếm tỷ trọng doanh thu lớn nhất đạt 56,78% năm 2017.

Thứ ba, kết quả lợi nhuận có bước nhảy vọt song rủi ro thua lỗ vẫn hiện hữu ở mức cao. Tổng mức lãi của các hộ đạt 961.347 triệu đồng năm 2017, tăng bình quân 53,14%/năm. Số hộ kinh doanh có lãi tăng từ 467 hộ (2015) lên 587 hộ (2017), mức lãi bình quân một hộ tăng 36,73%/năm, đạt 1.637,73 triệu đồng/hộ năm 2017. Lợi nhuận trước thuế toàn phường đạt 78.650 triệu đồng năm 2017, tăng bình quân 62,03%/năm so với năm 2015.

Thứ tư, tình trạng thua lỗ vẫn diễn biến phức tạp. Năm 2017 có 329 hộ kinh doanh bị lỗ (tăng 9,98%/năm so với năm 2015), chiếm 35,9% tổng số hộ trên địa bàn, với tổng mức lỗ 175.525 triệu đồng và mức lỗ bình quân 533,51 triệu đồng/hộ. Tỷ lệ hộ thua lỗ cao nhất thuộc về ngành vận tải kho bãi (53,13%), thương mại (43,7%) và khách sạn - nhà hàng (37,21%).

Thảo luận kết quả

Các kết quả định lượng phản ánh tác động tích cực của làn sóng đô thị hóa mạnh mẽ tại thành phố Bắc Ninh, thúc đẩy 899 trên tổng số 916 hộ (tương đương 98,14%) thiết lập địa điểm kinh doanh cố định vào năm 2017. Để minh họa trực quan xu hướng này, số liệu cơ cấu ngành nghề được biểu diễn tối ưu qua biểu đồ hình tròn (thương mại 44,21%, công nghiệp 34,61%, khách sạn - nhà hàng 9,39%), trong khi diễn biến tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận trước thuế giai đoạn 2015 - 2017 được thể hiện rõ nét qua biểu đồ cột nhóm kết hợp đường xu hướng.

Bảng tổng hợp chéo giữa các chỉ tiêu ROK, ROE và ROR cho thấy nhóm ngành công nghiệp và xây dựng đạt hiệu quả sinh lời trên vốn cao hơn hẳn nhóm thương mại và dịch vụ nhỏ lẻ. Nguyên nhân chính bắt nguồn từ việc các hộ công nghiệp đã chủ động đầu tư mở rộng nhà xưởng và công nghệ máy móc. Ngược lại, việc 45% hộ phải phụ thuộc vào nguồn vốn vay mượn người thân và 85% hộ phân bổ vốn vào tài sản ngắn hạn khiến năng lực chống chịu rủi ro thị trường suy giảm.

So sánh với bài học phát triển công nghiệp chế biến tại Thành phố Hồ Chí Minh (tăng trưởng 11,5%/năm) và thực trạng 5.600 doanh nghiệp nhỏ và vừa tại tỉnh Bắc Ninh, nghiên cứu khẳng định các hộ cá thể tại Vũ Ninh đang gặp phải điểm nghẽn nghiêm trọng về rào cản thế chấp tín dụng và thiếu hụt kỹ năng quản trị chuỗi cung ứng, đòi hỏi phải có sự can thiệp đồng bộ từ chính sách vĩ mô.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, đa dạng hóa kênh huy động vốn và tái cấu trúc tài chính hộ kinh doanh. Các chủ hộ cần chủ động xây dựng phương án kinh doanh khả thi để tiếp cận nguồn vốn tín dụng chính thức từ các ngân hàng thương mại, kết hợp hình thức thuê mua tài chính đối với máy móc thiết bị hiện đại. Mục tiêu giảm tỷ lệ phụ thuộc vào vốn vay phi chính thức từ 45% xuống dưới 25%, đồng thời nâng mức vốn bình quân một cơ sở đạt mốc 2,5 tỷ đồng vào năm 2020. Chủ thể thực hiện: Chủ hộ kinh doanh phối hợp hệ thống Ngân hàng Nhà nước và các tổ chức tín dụng trên địa bàn.

Thứ hai, đẩy mạnh đầu tư đổi mới công nghệ và chuyển đổi số quy trình quản lý. Các cơ sở công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp cần chuyển dịch từ khâu sơ chế, gia công đơn giản sang quy trình chế biến sâu; ứng dụng phần mềm quản lý bán hàng, phần mềm kế toán và thực hiện kê khai thuế điện tử cho 899 hộ có địa điểm cố định. Target metric: Nâng cao năng suất lao động thêm 15% đến 20%/năm, giảm tỷ lệ hộ kinh doanh thua lỗ toàn phường xuống dưới mức 20% trong giai đoạn 2018 - 2022. Chủ thể thực hiện: UBND thành phố Bắc Ninh, Phòng Kinh tế và các chủ hộ.

Thứ ba, chuẩn hóa năng lực quản trị và đào tạo nguồn nhân lực. Tổ chức định kỳ 2 khóa đào tạo chuyên sâu mỗi năm về quản trị tài chính, kỹ năng bán hàng đa kênh, thiết lập hệ thống nhận diện thương hiệu và quản lý chất lượng sản phẩm theo tiêu chuẩn ISO hoặc tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm. Target metric: 100% người đại diện hộ kinh doanh được bồi dưỡng kỹ năng lập kế hoạch dòng tiền. Timeline thực hiện: Triển khai liên tục giai đoạn 2018 - 2025. Chủ thể thực hiện: Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa tỉnh Bắc Ninh, Hội Liên hiệp Phụ nữ và Đoàn Thanh niên phường.

Thứ tư, tăng cường kiểm soát tuân thủ môi trường và hướng tới phát triển bền vững. Ban hành quy chế kiểm tra nghiêm ngặt việc xử lý chất thải rắn, nước thải sản xuất và thu đúng, thu đủ các khoản thuế, phí bảo vệ môi trường theo Nghị định số 67/2011/NĐ-CP. Target metric: 100% cơ sở kinh doanh công nghiệp và dịch vụ ăn uống cam kết đạt chuẩn xả thải môi trường trong vòng 18 tháng. Chủ thể thực hiện: Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố Bắc Ninh phối hợp UBND phường Vũ Ninh.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là các chủ hộ kinh doanh cá thể và cá nhân khởi nghiệp tại thành phố Bắc Ninh. Luận văn cung cấp bức tranh thực chứng về cơ cấu nguồn vốn, tỷ suất sinh lời theo ngành và các giải pháp tối ưu hóa chi phí sản xuất, giúp chủ hộ định hình lộ trình chuyển đổi mô hình kinh doanh cá thể thành doanh nghiệp tư nhân hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn.

Nhóm thứ hai là cán bộ quản lý kinh tế và chính quyền địa phương cấp phường, thành phố. Đề tài mang lại hệ thống dữ liệu chi tiết về 916 hộ kinh doanh, hỗ trợ công tác quy hoạch mặt bằng làng nghề, xây dựng chính sách hỗ trợ vốn vay ưu đãi và quản lý nguồn thu ngân sách địa phương với mức tăng trưởng ổn định trên 20,5%/năm.

Nhóm thứ ba là giảng viên, học viên cao học và sinh viên các khối ngành Quản trị kinh doanh, Tài chính - Ngân hàng, Kinh tế phát triển. Công trình là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp nghiên cứu thực nghiệm, ứng dụng công thức chọn mẫu Slovin và hệ thống chỉ tiêu phân tích hiệu quả kinh tế H = K/C.

Nhóm thứ tư là các tổ chức tín dụng, ngân hàng thương mại và quỹ hỗ trợ khởi nghiệp. Nghiên cứu giúp các định chế tài chính nắm bắt cơ cấu nợ (chiếm 55,87% nguồn vốn) và nhu cầu vay vốn của khu vực kinh tế cá thể, từ đó thiết kế các gói tín dụng thế chấp hoặc cho thuê tài chính phù hợp với đặc thù địa bàn.

Câu hỏi thường gặp

Điểm nghẽn tài chính lớn nhất của các hộ kinh doanh tại phường Vũ Ninh giai đoạn 2015 - 2017 là gì? Điểm nghẽn lớn nhất nằm ở cơ cấu vốn khi nợ phải trả chiếm tới 55,87% tổng nguồn vốn năm 2017 và 45% số hộ phải vay mượn từ người thân, bạn bè. Do thiếu tài sản thế chấp đạt chuẩn, các hộ gặp rào cản lớn khi tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng, dẫn đến thiếu hụt nguồn lực dài hạn để đầu tư thiết bị công nghệ.

Tại sao ngành thương mại có mức tăng doanh thu cao nhất (96,31%/năm) nhưng mức lãi bình quân lại thấp nhất? Ngành thương mại tuy có tốc độ quay vòng vốn nhanh và tăng trưởng doanh thu 96,31%/năm, nhưng biên lợi nhuận ròng chịu áp lực cạnh tranh gay gắt về giá và chi phí mặt bằng. Mức lãi bình quân năm 2017 của hộ thương mại chỉ đạt 233,33 triệu đồng/hộ, thấp hơn nhiều so với nhóm công nghiệp (1.666 triệu đồng/hộ).

Cỡ mẫu 100 hộ khảo sát trong nghiên cứu được xác định dựa trên cơ sở khoa học nào? Từ tổng thể 916 hộ kinh doanh, tác giả áp dụng công thức chọn mẫu Slovin với sai số e = 10% tính ra quy mô tối thiểu 90 hộ. Nhằm gia tăng độ tin cậy thống kê, tác giả mở rộng mẫu lên 100 hộ và phân bổ ngẫu nhiên phân tầng theo đúng tỷ trọng 6 nhóm ngành nghề thực tế trên địa bàn.

Thực trạng phân hóa lãi lỗ của các hộ kinh doanh tại phường Vũ Ninh diễn ra như thế nào? Năm 2017, toàn phường có 587 hộ kinh doanh có lãi với mức lãi bình quân 1.637,73 triệu đồng/hộ. Tuy nhiên, vẫn có 329 hộ bị lỗ (chiếm 35,9% tổng số hộ) với tổng mức lỗ 175.525 triệu đồng, tập trung chủ yếu ở ngành vận tải kho bãi (53,13% hộ lỗ) và thương mại (43,7% hộ lỗ).

Giải pháp nào giúp hộ kinh doanh nâng cao năng lực máy móc khi không có đủ tài sản thế chấp? Luận văn đề xuất giải pháp huy động vốn thông qua hình thức thuê mua tài chính (leasing). Phương thức này cho phép hộ kinh doanh sử dụng trực tiếp máy móc, dây chuyền công nghệ hiện đại do công ty tài chính đứng tên sở hữu mà không cần tài sản thế chấp bổ sung, giúp nâng cao năng suất tức thì.

Kết luận

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về hiệu quả kinh tế thông qua hàm mục tiêu H = K/C, gắn kết quy định pháp lý tại Điều 49 Nghị định số 43/2010/NĐ-CP và mô hình 5 áp lực cạnh tranh của Michael Porter.
  • Đánh giá thực chứng bước phát triển của 916 cơ sở kinh doanh cá thể tại phường Vũ Ninh năm 2017, tạo ra tổng lợi nhuận trước thuế 78.650 triệu đồng với mức tăng trưởng bình quân 62,03%/năm.
  • Nhận diện trực diện các điểm nghẽn cốt lõi: 35,9% số hộ kinh doanh chịu thua lỗ (329 hộ), 45% hộ phụ thuộc nguồn vay phi chính thức và 85% hộ thiếu hụt tài sản cố định dài hạn.
  • Đề xuất đồng bộ 4 nhóm giải pháp chiến lược về vốn tín dụng, chuyển đổi số công nghệ, bồi dưỡng quản trị và kiểm soát chuẩn hóa môi trường theo Nghị định số 67/2011/NĐ-CP giai đoạn 2018 - 2025.
  • Xác lập cơ sở khoa học và thực tiễn vững chắc hỗ trợ các nhà hoạch định chính sách thành phố Bắc Ninh nâng cao hiệu quả thu ngân sách trên 20,5%/năm và hỗ trợ hộ cá thể phát triển bền vững.

Kế hoạch hành động tiếp theo cần tập trung hoàn thiện chính sách thuê mua tài chính và phổ cập nền tảng kê khai thuế điện tử cho 899 hộ có địa điểm cố định trong vòng 12 đến 24 tháng tới. Các cấp quản lý và chủ cơ sở sản xuất kinh doanh nên tham khảo chi tiết toàn văn công trình nghiên cứu để vận dụng linh hoạt vào thực tiễn quản trị và hoạch định chiến lược kinh tế địa phương.