CHƯƠNG 1. Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp 1. Khái niệm Theo định nghĩa về hiệu quả kinh doanh tại Giáo trình quản trị kinh doanh lữ hành, ĐH Kinh tế Quốc dân (Nguyễn Văn Mạnh và Phạm Hồng Chương, 2012), Hiệu quả kinh doanh là phạm trù phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực để đạt được các mục tiêu kinh doanh xác định. Chỉ các doanh nghiệp kinh doanh mới nhằm vào mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận và vì thế mới cần đánh giá hiệu quả kinh doanh.
Có thể hiểu ở đây hiệu quả kinh doanh là một chỉ tiêu để doanh nghiệp đánh giá việc sử dụng các nguồn lực sẵn có của họ cung ứng các sản phẩm ra thị trường có đạt được những giá trị kinh tế mang lại từ những sản phẩm đó. Ngoài ra, nhà kinh tế học Smith (1776) cho rằng “Hiệu quả là kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế, là doanh thu tiêu thụ hàng hóa” và “hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng sản lượng của một hàng hóa mà không giảm sản lượng của hàng hóa khác và một nền kinh tế hiệu quả hoạt động trong giới hạn khả năng sản xuất của nó”. Ngoài ra, một quan điểm khác cho rằng: Hiệu quả là một phạm trù kinh tế, nó xuất hiện và tồn tại từ xã hội chiếm hữu nô lệ đến xã hội chủ nghĩa. Hiệu quả kinh doanh thể hiện trình độ sử dụng các yếu tố cần thiết tham gia vào hoạt động sản xuất kinh theo mục tiêu nhất định (Nguyễn Đình Giao, 1997).
Theo định nghĩa này, bản chất của phạm trù hiệu quả và những nhân tố hợp thành vận động theo những hướng khác nhau, nhất là trong những hình thái xã hội có quan hệ sản xuất khác nhau. Do đó, ta có thể thấy có sự tồn tại của một mối quan hệ tương quan giữa giá trị kinh tế thu được và chi phí bỏ ra để thu về giá trị đó. Đo lường Mục tiêu của các doanh nghiệp lâu nay đều là tối đa hóa lợi nhuận và tối đa hóa lợi nhuận cũng song song với việc tối đa hóa hiệu quả tài chính. Các chỉ tiêu đo lường hiệu quả kinh doanh gồm các chỉ số ROA và ROE.
• Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA-Return on assets) 8 Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản phản ánh hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp (Trích tài liệu số 1). Nếu ROA > 0 cho thấy doanh nghiệp hoạt động ngày càng hiệu quả và ngược lại. ROA tăng là tốt nếu công ty mở rộng quy mô hoạt động sản xuất – kinh doanh, tăng VCSH và giảm vay nợ thông qua đòn bẩy tài chính từ đó tăng lợi nhuận. ROA tăng là dấu hiệu không tốt, thể hiện công ty đang hoạt động với hiệu quả thấp nếu công ty đang giảm sử dụng đòn bẩy do thu hẹp sản xuất kinh doanh dẫn đến doanh thu và lợi nhuận giảm nhưng giảm thấp hơn tốc độ giảm QMTTS.
Ngoài ra việc công ty tăng vay nợ nhưng VCSH giảm do lỗ, hoặc mở rộng sản xuất kinh doanh nhưng những lĩnh vực lại kém hiệu quả làm lợi nhuận không có tăng trưởng và có thể giảm cũng là dấu hiệu cho thấy doanh nghiệp đang hoạt động kém hiệu quả. ROA là tỷ lệ giữa lợi nhuận sau thuế và tổng tài sản bình quân. • Tỷ suất lợi nhuận trên VCSH (ROE-Return on equity) Tỷ suất lợi nhuận trên VCSH phản ánh hiệu quả sử dụng VCSH của doanh nghiệp (Trích tài liệu số 1). Nếu ROE > 0 và càng cao cho thấy doanh nghiệp đang tạo được lợi nhuận trên nguồn đầu tư của chủ sở hữu, quy mô vốn tự có được mở rộng sẽ góp phần làm giảm giảm rủi ro của doanh nghiệp và ngược lại.
Việc tạo ra một chỉ số ROE hợp lý giúp cho công ty: - Duy trì việc trả cổ tức; - Duy trì mức lợi nhuận giữ lại phù hợp cho doanh nghiệp; - Tránh những nguồn vốn bên ngoài có chi phí cao; - Thu hút đối tác và các nhà đầu tư ROE tăng là dấu hiệu tốt khi VCSH không giảm. ROE tăng là dấu hiệu không tốt khi công ty thua lỗ, giảm nhu cầu sản xuất dẫn đến nguồn lợi thu được từ sản xuất kinh doanh giảm, vốn đầu tư từ chủ sở hữu cũng giảm theo và tốc độ giảm nhiều hơn lợi nhuận. 9 ROE giảm là dấu hiệu tốt nếu VCSH và lợi nhuận cùng tăng nhưng tốc độ tăng lợi nhuận chậm hơn tốc độ tăng VCSH. ROE giảm là dấu hiệu không tốt nếu cả lợi nhuận và VCSH đều giảm do kinh doanh thua lỗ.
ROE là tỷ lệ giữa lợi nhuận sau thuế và VCSH bình quân. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp 1. Lợi nhuận sau thuế (LNST) Lợi nhuận sau thuế chính là nhân tố cấu thành nên ROA và ROE. Do đó, LNST mang một tầm quan trọng trong việc đánh giá hiệu quả kinh doanh của một doanh nghiệp và chi phối những quyết định sản xuất kinh doanh của các nhà quản trị doanh nghiệp.
Lợi nhuận sau thuế phản ảnh khả năng sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp và được xác định như sau LNST = {(Doanh thu thuần – Giá vốn hàng bán) + (Doanh thu hoạt động tài chính – Chi phi tài chính) - (CPBH + CPQLDN) + (Thu nhập khác – Chi phí khác)} – Chi phí thuế TNDN hiện hành. Quy mô doanh nghiệp (SIZE) Quy mô doanh nghiệp cũng đóng vai trò quan trọng trong việc xác định hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Quan điểm của Pervan & Vislé (2012) theo tài liệu số 15 cho rằng quy mô doanh nghiệp có ảnh hưởng lớn đến lợi nhuận của doanh nghiệp. Thực tế, một số doanh nghiệp lớn với quy mô về sản xuất và nguồn vốn tự có lớn như Hòa Phát (HPG) hay Hoa Sen (HSG) sẽ tạo ra được mức lợi nhuận rất lớn lên tới hàng nghìn tỷ đến chục nghìn tỷ mỗi năm với tiềm lực của mình, hơn một số DNNY cùng ngành có quy mô nhỏ hơn như Thép Bình Tây (VDT) và Thép Việt Ý (VIS) với QMTTS và VCSH nhỏ chỉ một vài trăm tỷ đồng chỉ tạo ra mức lợi nhuận chỉ từ vài tỷ đến vài chục tỷ đồng.
Có thể cho rằng quan điểm của Pervan & Vislé phần nào có sự hợp lý khi đánh giá quy mô doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng đến hiệu quả kinh doanh doanh nghiệp. 10 Bên cạnh đó, để một nền kinh tế hoạt động hiệu quả trong giới hạn khả năng sản xuất của nó thì quy mô của các doanh nghiệp sẽ có tác động quan trọng đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam có quy mô sản xuất kinh doanh và nguồn vốn nhỏ, hiện nay đã Việt Nam đã có những chính sách hỗ trợ cùng với những quy định luật pháp phù hợp để giúp cho các doanh nghiệp đưa ra những định hướng mở rộng sản xuất kinh doanh. Đòn bảy tài chính (DFL) Với những hợp đồng sản xuất có quy mô lớn nhằm đáp ứng nhu cầu từ khách hàng đòi hỏi cần có một nguồn vốn cho sản xuất lớn thì bên cạnh việc sử dụng nguồn tự có nội tại thì doanh nghiệp cần huy động các nguồn vốn từ bên ngoài một cách hợp lý để hạn chế ảnh hưởng từ các chi phí phát sinh từ nhứng nguồn vốn đó làm giảm lợi nhuận mang lại.
Do đó, vốn có tác động trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Nguồn vốn của một doanh nghiệp gồm 3 loại là vốn tự có, vốn vay và vốn tài trợ từ Ngân sách nhà nước đối với các doanh nghiệp có sở hữu từ Nhà nước. Theo lý thuyết của Modigliani & Miller (1963), ta xét đến 2 trường hợp như sau: - TH1: Không có thuế thu nhập doanh nghiệp: Việc thay đổi cấu trúc vốn không ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp (VU = VL) - TH2: Có thuế thu nhập doanh nghiệp: Giá trị của doanh nghiệp với 100% nguồn vốn + “lá chắn thuế” bằng với giá trị của doanh nghiệp có đòn bẩy (VL = VU + tc x B, với VL giá trị của doanh nghiệp có đòn bẩy, VU là giá trị của doanh nghiệp 100% vốn, tc là thuế thu nhập doanh nghiệp và B là lượng vay nợ). Ngoài ra Berger, A.
(2006) cũng đã chứng minh rằng đòn bẩy tài chính có tác động tới hiệu quả kinh doanh Đòn bẩy tài chính (DFL) có tác động trực tiếp tới ROE và thông thường là một chỉ số được dùng để đánh giá khả năng sử dụng tài sản để hỗ trợ cho mỗi đồng VCSH. 11 Đòn bẩy tài chính là tỷ lệ giữa tổng tài sản bình quân và VCSH bình quân. Tuy nhiên, đây có thể được coi là một “con dao 2 lưỡi” khi công ty sử dụng đòn bẩy tài chính với một tỷ lệ cao trong trường hợp lợi nhuận mang lại cho doanh nghiệp là lớn thì việc sử dụng đòn bẩy tài chính lớn sẽ có lợi. Tuy nhiên, trong trường hợp lợi nhuận mang lại không như kỳ vọng thì việc sử dụng đòn bẩy tài chính sẽ làm gia tăng nợ cho doanh nghiệp, tăng rủi ro tài chính và làm yếu đi khả năng thanh toán trong dài hạn.
Thông thường việc giảm sử dụng đòn bẩy tài chính và sử dụng vốn tự có hiệu quả sẽ tăng hiệu quả kinh doanh và đặc biệt tăng phần lợi nhuận cho VCSH nếu doanh nghiệp tạo mức lợi nhuận lớn hơn mức chi trả lãi vay. Tóm lại, các doanh nghiệp cần đưa ra một chiến lược quản lý và sử dụng nguồn vốn với đòn bẩy phù hợp với tình hình sản xuất, kinh doanh thực tại. Zeitun & Titan (2007) cũng cho rằng đòn bẩy tài chính có tác động ngược chiều với hiệu quả kinh doanh. Tính thanh khoản (CR) Tính thanh khoản được sử dụng để phản ảnh hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp thông qua chỉ số thanh toán hiện hành.
Có thể hiểu chỉ số này sẽ đánh giá doanh nghiệp đã sử dụng bao nhiêu đồng tài sản ngắn hạn để chi trả cho những nhu cầu trong ngắn hạn của họ. Thanh khoản hiện hành là tỷ lệ giữa tài sản ngắn hạn và nợ ngắn hạn. Nếu CR từ 1 trở lên cho thấy doanh nghiệp có dư tài sản ngắn hạn như tiền mặt để thanh toán những nhu cầu trong ngắn hạn. CR càng cao đồng nghĩa khả năng thanh khoản của doanh nghiệp tốt.
Chỉ số này càng tăng cao càng cho thấy khả năng thanh khoản tốt của doanh nghiệp. Tuy vây, một khi doanh nghiệp dự trữ quá nhiều tiền mặt sẽ giảm khả năng tạo lợi nhuận. Tính thanh khoản cho thấy khả năng chuyển đổi tài sản thành tiền mặt để đáp ứng các nghĩa vụ nợ trong ngắn hạn.