Tổng quan nghiên cứu

Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn tại vùng Đồng bằng sông Hồng đang tạo ra những chuyển dịch sâu sắc trong cơ cấu lực lượng lao động. Tính đến cuối năm 2016, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh có quy mô dân số đạt 106.929 người sinh sống tại 28.372 hộ gia đình, trong đó tỷ lệ dân số nông thôn chiếm tới 95,5%. Mặc dù diện tích đất nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lớn với 61,03% tổng diện tích đất tự nhiên (khoảng 6.566,31 ha), nhưng tỷ trọng giá trị sản xuất ngành công nghiệp và xây dựng đã vươn lên chiếm 43,9% trong cơ cấu kinh tế của huyện, đạt giá trị 1.925 tỷ đồng vào năm 2016. Tăng trưởng tổng sản phẩm địa phương giai đoạn 2014 - 2016 đạt bình quân 6,1%/năm, kéo theo sự thay đổi mạnh mẽ trong cấu trúc việc làm và đời sống của người dân.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm là đánh giá sự chuyển dịch của lao động nông thôn từ khu vực sản xuất nông nghiệp truyền thống sang các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng và thương mại dịch vụ, cùng những tác động đa chiều của tiến trình này tới đời sống hộ gia đình. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể bao gồm: hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về chuyển dịch lao động; phân tích thực trạng dòng dịch chuyển lao động tại huyện Gia Bình trong giai đoạn 2014 - 2016; đánh giá tác động thực tế của sự chuyển dịch đến thu nhập, việc làm và phúc lợi xã hội của nông hộ; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp quản trị kinh tế - xã hội nhằm tối ưu hóa lợi ích và giảm thiểu các rủi ro phát sinh.

Phạm vi nghiên cứu được xác lập tại 14 xã và thị trấn thuộc huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh. Dữ liệu thứ cấp được tổng hợp trong giai đoạn 2014 - 2016 và khảo sát sơ cấp trên các hộ gia đình có lao động chuyển dịch từ năm 2010 đến năm 2016, được thực hiện và hoàn thành trong giai đoạn 2017 - 2018. Ý nghĩa thực tiễn của công trình thể hiện rõ nét qua các chỉ số mục tiêu: thu nhập bình quân đầu người của huyện tăng từ 17,9 triệu đồng năm 2014 lên 21,8 triệu đồng năm 2016 (tăng bình quân 10,3%/năm), tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 5,2% xuống còn 3,5%, đồng thời giải quyết bài toán thiếu việc làm ở khu vực nông thôn vốn đang ở mức 26,5%.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên nền tảng các học thuyết kinh tế phát triển và quản trị nguồn nhân lực kinh điển:

  • Mô hình chuyển dịch lao động hai khu vực của Arthur Lewis (1954): Giải thích cơ chế dịch chuyển lao động dư thừa từ khu vực nông nghiệp truyền thống với năng suất biên thấp sang khu vực công nghiệp hiện đại có khả năng tích lũy vốn và năng suất cao hơn.
  • Lý thuyết chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Simon Kuznets (1966, 1973) cùng nghiên cứu thực nghiệm của Chenery và Syrquin (1975): Khẳng định quy luật phát triển tất yếu khi tỷ trọng nông nghiệp trong tổng sản lượng và cơ cấu lao động có xu hướng giảm dần, nhường chỗ cho sự tăng trưởng vượt bậc của ngành công nghiệp và dịch vụ.
  • Khung phân tích sinh kế bền vững của Ian Scoones (1998): Phân tích chuyển dịch lao động như một chiến lược thích ứng sinh kế của hộ nông dân nhằm đa dạng hóa nguồn lực và tối đa hóa phúc lợi gia đình.

Các khái niệm trọng tâm được vận dụng xuyên suốt công trình bao gồm: lao động, nguồn lao động nông thôn (những người trong độ tuổi 15 - 60 đối với nam và 15 - 55 đối với nữ có khả năng tham gia sản xuất tại địa bàn nông thôn), chuyển dịch cơ cấu lao động, thu nhập nông hộ và phúc lợi đời sống. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, tỷ trọng lao động nông, lâm, thủy sản của cả nước đã giảm từ 52,9% năm 2007 xuống 47,4% năm 2012 và tiếp tục giảm còn 47,1% năm 2014. Đồng thời, tỷ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên tham gia hoạt động phi nông nghiệp tăng từ 22,3% năm 2002 lên 34,1% năm 2010, minh chứng cho xu thế khách quan của thị trường lao động.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp đồng bộ hai nguồn dữ liệu sơ cấp và thứ cấp:

  • Nguồn dữ liệu thứ cấp: Thu thập từ Niên giám thống kê huyện Gia Bình, các báo cáo chuyên đề của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội, Phòng Tài nguyên và Môi trường, Chi cục Thống kê và UBND huyện Gia Bình giai đoạn 2014 - 2016.
  • Nguồn dữ liệu sơ cấp: Được điều tra trực tiếp thông qua bảng hỏi phỏng vấn bán cấu trúc với tổng quy mô mẫu là 150 phiếu, bao gồm 120 hộ gia đình có người lao động chuyển dịch nghề nghiệp và 30 cán bộ quản lý (10 cán bộ cấp huyện và 20 cán bộ cấp xã).
  • Phương pháp chọn mẫu: Áp dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên có chủ đích từ danh sách thống kê các hộ có lao động chuyển đổi ngành nghề giai đoạn 2010 - 2016 trên địa bàn 14 đơn vị hành chính (gồm thị trấn Gia Bình và 13 xã như Đại Bái, Xuân Lai, Nhân Thắng, Đông Cứu...).
  • Phương pháp phân tích: Sử dụng phương pháp thống kê mô tả, thống kê so sánh, phân tổ và tổng hợp dữ liệu trên phần mềm chuyên dụng. Lý do lựa chọn phương pháp này là nhằm phản ánh chính xác các chỉ số tuyệt đối, tương đối, chỉ số bình quân và đối sánh một cách lượng hóa các tiêu chí đời sống hộ gia đình trước và sau chuyển dịch.
  • Mốc thời gian thực hiện: Nghiên cứu thực địa, xử lý số liệu và hoàn thiện luận văn diễn ra từ tháng 6 năm 2017 đến tháng 6 năm 2018.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cơ cấu lực lượng lao động huyện Gia Bình ghi nhận sự chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng tích cực. Quy mô lao động làm việc trong khu vực phi nông nghiệp năm 2016 đạt 26.607 người, chiếm tỷ trọng 68,17% tổng số lao động toàn huyện, tăng 11,3% so với năm 2014. Ngược lại, số lao động hoạt động thuần nông giảm còn 16.895 người, chỉ còn chiếm 31,83%. Sự dịch chuyển này đồng nhịp với đà tăng trưởng của ngành dịch vụ (tăng bình quân 11,1%/năm) và công nghiệp - xây dựng (tăng 8,7%/năm), trong khi giá trị sản xuất nông nghiệp giảm bình quân 2,7%/năm.

Thứ hai, chất lượng nguồn nhân lực và tính ổn định của việc làm được nâng cao rõ rệt. Tỷ lệ lao động qua đào tạo trên toàn huyện năm 2016 đạt 66,86% (tương đương 24.081 người), đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 105,72% trong giai đoạn 2014 - 2016. Số lao động có việc làm thường xuyên đạt 61,34% (22.845 người), tăng bình quân 4,65%/năm, trong khi nhóm lao động không có việc làm thường xuyên giảm xuống còn 16,1% tổng nguồn lao động.

Thứ ba, thu nhập và tích lũy tài sản của hộ gia đình sau chuyển dịch cải thiện vượt bậc. Giá trị sản xuất bình quân của mỗi hộ gia đình tại Gia Bình năm 2016 đạt 148,7 triệu đồng, tăng trưởng bình quân 4,3%/năm. Tỷ lệ hộ nghèo toàn huyện giảm nhanh từ 5,2% năm 2014 xuống còn 3,5% năm 2016 (mỗi năm giảm bình quân 0,8%). Cơ cấu nguồn thu nhập của hộ chuyển biến tích cực: nguồn thu từ tiền lương, tiền công tại các nhà máy và cơ sở dịch vụ chiếm vị trí chủ đạo, thay thế cho nguồn thu bấp bênh từ trồng trọt và chăn nuôi nhỏ lẻ.

Thứ tư, quá trình chuyển dịch tạo ra các hệ lụy xã hội về mặt phúc lợi phi vật chất. Việc gia tăng thời gian làm việc ca kíp trong các doanh nghiệp khiến thời gian phụ huynh dành cho việc chăm sóc, giáo dục con cái bị thu hẹp đáng kể. Tình trạng già hóa lao động tại đồng ruộng xuất hiện do phần lớn lao động trẻ từ 18 đến 35 tuổi (chiếm tỷ lệ chuyển dịch cao nhất) ưu tiên làm việc tại các khu công nghiệp hoặc đi làm ăn xa.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của sự chuyển dịch bắt nguồn từ lực đẩy thu nhập thấp trong nông nghiệp và lực hút từ các chương trình đầu tư hạ tầng đồng bộ. Trong giai đoạn 2011 - 2015, huyện Gia Bình đã huy động tổng nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản đạt trên 1.000 tỷ đồng, nâng cấp 344 km đường giao thông nông thôn và đưa vào vận hành cầu Bình Than năm 2017 kết nối tỉnh lộ 282 với quốc lộ 18. Hạ tầng kết nối giao thương thuận lợi đã tạo tiền đề cho các làng nghề truyền thống như đúc đồng Đại Bái, tre trúc Xuân Lai mở rộng quy mô sản xuất, thu hút hàng ngàn lao động địa phương.

Khi so sánh với các địa bàn lân cận trong tỉnh Bắc Ninh, xu hướng chuyển dịch của Gia Bình tương đồng với huyện Tiên Du (nơi lao động công nghiệp - xây dựng tăng lên 32,62% năm 2014) và huyện Quế Võ (lao động công nghiệp tăng bình quân 16,84%/năm). Kết quả này hoàn toàn nhất quán với nhận định của Brian McCaig và Nina Pavcnik (2012) rằng chuyển dịch lao động từ nông nghiệp sang sản xuất công nghiệp là đòn bẩy chủ đạo nâng cao mức sống nông hộ tại Việt Nam.

Để trực quan hóa các phát hiện nghiên cứu, các dữ liệu có thể được thể hiện qua biểu đồ cột chồng đối sánh cơ cấu các nguồn thu nhập của 120 hộ khảo sát trước và sau khi chuyển dịch, minh họa rõ sự teo tóp của tỷ trọng thu nhập nông nghiệp (từ trên 65% xuống dưới 25%) và sự gia tăng vượt bậc của thu nhập tiền lương (từ 20% lên trên 60%). Đồng thời, một bảng số liệu so sánh chi tiêu trước - sau chuyển dịch sẽ làm nổi bật mức tăng chi tiêu cho giáo dục, chăm sóc y tế và trang bị tiện nghi sinh hoạt của các hộ gia đình.

Đề xuất và khuyến nghị

  • Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và nông thôn gắn với quy hoạch vùng sản xuất: Nâng tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng và dịch vụ lên mức trên 80% giá trị sản xuất toàn huyện; quy hoạch chuyển đổi diện tích đất nông nghiệp kém hiệu quả sang các khu tiểu thủ công nghiệp tập trung. Lộ trình thực hiện: 2018 - 2023. Chủ thể thực hiện: UBND huyện Gia Bình phối hợp với Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Bắc Ninh.
  • Nâng cao chất lượng đào tạo nghề và phát triển kỹ năng chuyên môn kỹ thuật cho lao động nông thôn: Mục tiêu nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo từ 66,86% lên mức trên 75% vào năm 2025, tập trung vào các nhóm ngành cơ khí, điện tử, chế biến nông sản và kỹ năng bán hàng hiện đại; kéo giảm tỷ lệ thiếu việc làm nông thôn từ 26,5% xuống dưới 15%. Lộ trình thực hiện: 2018 - 2025. Chủ thể thực hiện: Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội kết hợp với Trung tâm Giáo dục thường xuyên huyện Gia Bình và các doanh nghiệp trên địa bàn.
  • Đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ và cơ giới hóa đồng bộ trong sản xuất nông nghiệp: Nâng cao năng suất lao động nông nghiệp, phấn đấu giá trị sản xuất bình quân trên một đơn vị đất canh tác đạt trên 160 triệu đồng/ha/năm; giải phóng từ 15% đến 20% lao động thủ công để tiếp tục dịch chuyển sang các lĩnh vực sản xuất có giá trị gia tăng cao. Lộ trình thực hiện: 2019 - 2024. Chủ thể thực hiện: Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng hệ thống 75 trạm bơm cục bộ của các Hợp tác xã nông nghiệp.
  • Hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội và củng cố thiết chế văn hóa gia đình: Giảm tỷ lệ hộ nghèo bền vững xuống dưới 2,5%; triển khai các gói tín dụng ưu đãi từ Ngân hàng Chính sách Xã hội cho các hộ chuyển đổi ngành nghề; xây dựng mạng lưới trường mầm non và nhà trẻ công lập đạt chuẩn 100% tại các xã nhằm hỗ trợ các cặp vợ chồng trẻ làm việc trong các nhà máy yên tâm công tác. Lộ trình thực hiện: 2018 - 2022. Chủ thể thực hiện: Chi nhánh Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện, Phòng Giáo dục và Đào tạo phối hợp cùng UBND 14 xã, thị trấn.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách cấp huyện, cấp tỉnh: Các phòng, ban chuyên môn như Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội, Phòng Tài chính - Kế hoạch, Chi cục Thống kê có thể ứng dụng khung phân tích và dữ liệu thực chứng của 14 xã thị trấn để xây dựng đề án phân bổ ngân sách, quy hoạch mạng lưới việc làm nông thôn và điều chỉnh chỉ tiêu xây dựng nông thôn mới.
  • Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên cao học chuyên ngành Quản trị kinh doanh, Kinh tế phát triển: Cung cấp nguồn tư liệu học thuật giá trị về mô hình nghiên cứu định lượng kết hợp định tính, phương pháp xử lý dữ liệu điều tra 120 hộ gia đình và bộ tài liệu tham khảo phong phú về sự biến đổi kinh tế hộ dưới tác động của công nghiệp hóa.
  • Ban quản lý các khu công nghiệp, cụm tiểu thủ công nghiệp và doanh nghiệp tuyển dụng: Giúp các chủ doanh nghiệp nắm bắt đặc điểm nhân khẩu học của hơn 40.000 lao động tại Gia Bình, từ đó xây dựng chiến lược tuyển dụng, thiết lập thang bảng lương phù hợp và thiết kế các chương trình đào tạo nghề thích ứng với năng lực của lao động địa phương.
  • Các tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức phi chính phủ: Đoàn Thanh niên, Hội Phụ nữ và các quỹ phát triển cộng đồng có thể dựa vào các phát hiện về biến đổi phúc lợi gia đình để thiết kế các chương trình hỗ trợ cân bằng việc làm - đời sống, chăm sóc sức khỏe tinh thần và giáo dục trẻ em vùng nông thôn chuyển đổi.

Câu hỏi thường gặp

  1. Xu hướng chuyển dịch lao động tại huyện Gia Bình trong giai đoạn nghiên cứu diễn ra như thế nào? Xu hướng chuyển dịch diễn ra rất mạnh mẽ theo hướng giảm tỷ trọng lao động nông nghiệp và tăng nhanh lao động công nghiệp, dịch vụ. Cụ thể, số lao động phi nông nghiệp năm 2016 đã đạt 26.607 người (chiếm 68,17% tổng số lao động), trong khi lao động nông nghiệp thuần túy giảm xuống còn 31,83%, phản ánh bước chuyển đổi cơ cấu kinh tế đúng hướng của địa phương.

  2. Mức thu nhập của các hộ nông dân thay đổi ra sao sau khi có thành viên chuyển dịch nghề nghiệp? Thu nhập bình quân đầu người của huyện đã tăng trưởng ấn tượng từ 17,9 triệu đồng năm 2014 lên 21,8 triệu đồng năm 2016, đạt mức tăng 21,78%. Sự gia tăng này chủ yếu đến từ tiền lương và tiền công ổn định tại các nhà máy, xí nghiệp, chiếm tỷ trọng áp đảo so với nguồn thu bấp bênh từ nông nghiệp trước đây.

  3. Chuyển dịch lao động nông thôn gây ra những tác động tiêu cực nào đối với đời sống hộ gia đình? Tác động tiêu cực thể hiện rõ nhất ở sự suy giảm thời gian chăm sóc, giáo dục con cái do người lao động phải làm việc tăng ca hoặc theo ca kíp tại các nhà máy. Bên cạnh đó, tình trạng già hóa lao động nông nghiệp gia tăng và mối quan hệ gắn kết làng xóm truyền thống có xu hướng giảm sút.

  4. Quy mô mẫu và phương pháp khảo sát của đề tài có đảm bảo độ tin cậy khoa học không? Nghiên cứu khảo sát 120 hộ gia đình có lao động chuyển dịch tại toàn bộ 14 xã, thị trấn cùng 30 cán bộ quản lý các cấp (tổng cộng 150 phiếu) dựa trên danh sách chọn mẫu ngẫu nhiên của Chi cục Thống kê huyện. Quy trình thu thập và phân tích dữ liệu chặt chẽ bảo đảm tính đại diện và độ tin cậy cao cho các kết luận.

  5. Yếu tố nào đóng vai trò là động lực chính thúc đẩy người nông dân chuyển đổi nghề nghiệp? Động lực chính là sự chênh lệch thu nhập giữa sản xuất nông nghiệp và các ngành phi nông nghiệp, kết hợp với áp lực thiếu việc làm mùa vụ ở nông thôn (chiếm 26,5%). Ngoài ra, sự đầu tư hơn 1.000 tỷ đồng vào hạ tầng giao thông và sự phát triển của các làng nghề, cụm công nghiệp đã tạo ra lực hút việc làm to lớn.

Kết luận

  • Chuyển dịch lao động nông thôn tại huyện Gia Bình là quá trình biến đổi khách quan, thúc đẩy tăng trưởng GRDP bình quân đạt 6,1%/năm và giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống mức 3,5% vào năm 2016.
  • Đời sống vật chất của hộ gia đình được cải thiện rõ nét với thu nhập bình quân đầu người đạt 21,8 triệu đồng/năm và tỷ lệ lao động có việc làm thường xuyên tăng lên 61,34%.
  • Cơ cấu nguồn thu nhập của nông hộ có sự chuyển hóa căn bản, dịch chuyển từ phụ thuộc nông nghiệp sang thu nhập ổn định từ tiền lương công nghiệp và dịch vụ tại 14 xã, thị trấn.
  • Tiến trình chuyển dịch bộc lộ các thách thức xã hội mới như già hóa lao động đồng ruộng, thiếu hụt thời gian chăm sóc con cái và an ninh trật tự nông thôn tiềm ẩn nhiều diễn biến phức tạp.
  • Đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ của chính quyền các cấp thông qua các giải pháp nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo lên trên 75% và đẩy mạnh cơ giới hóa nông nghiệp đạt trên 160 triệu đồng/ha/năm.

Đóng góp chính của luận văn là đã lượng hóa chi tiết bức tranh chuyển dịch lao động và xác định rõ mối quan hệ tương hỗ giữa chuyển đổi nghề nghiệp với chất lượng đời sống hộ gia đình tại một huyện thuần nông đang trong tiến trình đô thị hóa mạnh mẽ. Nhằm hiện thực hóa các mục tiêu phát triển bền vững cho giai đoạn 2018 - 2025, các cơ quan ban ngành và doanh nghiệp cần khẩn trương phối hợp triển khai các chương trình đào tạo nghề gắn với nhu cầu thực tế. Quý độc giả, các nhà nghiên cứu và nhà quản lý quan tâm hãy tham khảo toàn văn luận văn thạc sĩ để khai thác sâu hơn hệ thống số liệu thực chứng và các giải pháp quản trị kinh doanh thực tiễn.