Chương 1 giới thiệu một số khái niệm quan trọng về chuyển dịch cơ cấu lao động và tổng quan các nghiên cứu về hai chủ đề: (i) tác động của chuyển dịch cơ cấu lao động đến tăng trưởng kinh tế; và (ii) các yếu tố ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu lao động.1 Một số khái niệm 1.1 Cơ cấu lao động Cơ cấu lao động là một phạm trù kinh tế tổng hợp thể hiện tỷ lệ của một bộ phận lao động nào đó trong tổng số lao động do các bộ phận đó hợp thành (Phạm Quý Thọ, 2006; Lê Du Phong và Nguyễn Thành Độ, 1999;. Các nhà thống kê và các nhà nghiên cứu kinh tế - xã hội đã thống nhất một số tiêu chí phân loại cơ cấu lao động, bao gồm cách phân loại: theo ngành kinh tế; theo thành phần kinh tế; theo vùng kinh tế; theo khu vực nông thôn và thành thị; theo trình độ chuyên môn, kỹ thuật;. Hoặc theo các tiêu chí phân loại khác phù hợp với mục tiêu nghiên cứu.2 Chuyển dịch cơ cấu lao động Chuyển dịch cơ cấu lao động là sự thay đổi trong cơ cấu lao động theo một không gian và một khoảng thời gian nào đó. Sự chuyển dịch này có thể là kết quả của sự di chuyển lao động từ bộ phận này sang bộ phận khác, hoặc do sự thay đổi trong lựa chọn của lực lượng mới gia nhập thị trường lao động.
Theo tác giả Phạm Quý Thọ (2006), thực chất của chuyển dịch cơ cấu lao động là quá trình tổ chức, phân công lại lực lượng lao động, còn được gọi là tái phân bổ lao động, qua đó làm thay đổi quan hệ tỷ trọng giữa các bộ phận của tổng thể. Trong luận án, tác giả tập trung nghiên cứu sự chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành kinh tế, bao gồm chuyển dịch cơ cấu lao động trong nội bộ ngành và chuyển dịch cơ cấu lao động giữa các ngành. Chuyển dịch cơ cấu lao động trong nội bộ ngành được hiểu là quá trình thay đổi cơ cấu lao động của các ngành con chứa bên trong một ngành lớn hay quá trình tái phân bổ lao động giữa các phân ngành chứa trong một ngành lớn theo một không gian và thời gian xác định. 8 Chuyển dịch cơ cấu lao động giữa các ngành là quá trình thay đổi cơ cấu lao động giữa các ngành hay quá trình tái phân bổ lao động giữa các ngành trong một không gian và thời gian xác định.3 Đo lường chuyển dịch cơ cấu lao động Đo lường sự thay đổi trong tỉ trọng lao động Phổ biến nhất trong các nghiên cứu, chuyển dịch cơ cấu lao động theo thời gian được tính bằng cách so sánh tỷ trọng lao động của từng bộ phận trong tổng thể kỳ này với kỳ trước đó, còn chuyển dịch cơ cấu lao động theo không gian được tính bằng cách so sánh tỉ trọng lao động giữa các bộ phận trong tổng thể với nhau để thấy được đã tăng lên (hay giảm đi) bao nhiêu phần trăm.
Wacziarg (2002) đã sử dụng công thức đo chuyển dịch cơ cấu lao động bằng quốc gia/ khu vực qua năm. giá trị tuyệt đối của sai khác giữa tỷ trọng lao động ngành i so với tổng số lao động của () = | − | Trong đó: là tỉ trọng lao động của ngành i trong tổng số lao động của một quốc gia/ vùng, tại năm t. Phương pháp vecto (hệ số Cosin) Phương pháp vecto (hay hệ số Cos) do các chuyên gia của Ngân hàng thế giới đề xuất, được dùng để đánh giá mức độ chuyển dịch cơ cấu lao động giữa các thời kỳ. Nguyễn Quốc tế, Nguyễn Thị Đông (2013) đã sử dụng phương pháp vecto và bộ số liệu vĩ mô của ba ngành cấp một để tính độ chuyển dịch cơ cấu ngành và chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành, từ đó xác định tác động của chuyển dịch cơ cấu ngành tới chuyển dịch cơ cấu lao động và tạo việc làm theo ngành.
Ở đó, hệ số chuyển dịch cơ cấu lao động theo ngành được tính theo công thức sau: ∑ ( ). ∑ ( ) Trong đó: ( ) là tỷ trọng lao động ở ngành i trong tổng số lao động đang làm việc trong nền kinh tế tại thời điểm t0. ( ) là tỷ trọng lao động ở ngành i trong tổng số lao động đang làm việc trong nền kinh tế tại thời điểm t1. 9 Tỷ lệ chuyển dịch cơ cấu lao động của ngành sẽ là: = ∗ 100 (%) Chỉ số Lilien Lilien(1982) đã giới thiệu một cách đo độ tái phân bổ lao động giữa các ngành và/hoặc các vùng.
Trong đó, đo bình phương sai số có trọng số của tốc độ tăng lao động trong ngành i với tốc độ tăng lao động chung. ! = "# ($ − $ ) là tỷ trọng lao động của ngành i; $ là tốc độ tăng lao động của ngành i; $ là tốc độ tăng Trong đó: các chỉ số i và t theo thứ tự là chỉ số chỉ ngành và thời gian; lao động chung. Luận án sẽ tiếp cận chỉ số Lilien mở rộng để đo lường chuyển dịch cơ cấu lao động giữa các ngành và chuyển dịch cơ cấu lao động nội ngành. Phương pháp này sẽ được trình bày chi tiết hơn trong chương 2.2 Tổng quan nghiên cứu 1.1 Tổng quan nghiên cứu về vai trò của chuyển dịch cơ cấu lao động đối với tăng trưởng kinh tế Một số lý thuyết về chuyển dịch cơ cấu lao động Các nhà nghiên cứu về lý thuyết thay đổi cơ cấu đưa ra giả thuyết: tình trạng kém phát triển là hậu quả của việc không sử dụng hết các nguồn lực do các yếu tố về cấu trúc, thể chế ở cả trong và ngoài nước gây ra.
Nguồn lực lao động là một trong những yếu tố đầu vào quan trọng của quá trình sản xuất. Sử dụng hiệu quả nguồn lực lao động sẽ góp phần nâng cao sản lượng của nền kinh tế, qua đó thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế. Các nghiên cứu về chuyển dịch cơ cấu lao động, cụ thể về nội dung phân công lao động xã hội được thảo luận trong một số lý thuyết kinh điển của Adam Smith (1776) và Karl Marx (1867). Adam Smith đã nhìn thấy sự phân chia lao động như một nguồn tích cực của năng suất ngày càng tăng của thị trường tư bản công nghiệp.
Trong tác phẩm "Bàn về bản chất và nguồn gốc giàu có của các quốc gia", Adam Smith cho rằng: nguồn gốc tạo ra giá trị cho xã hội là do sử dụng lao động một cách hiệu quả. Ông coi sự gia tăng tư bản đóng vai trò chủ yếu trong việc nâng cao năng suất lao động, bởi vì lượng tư bản tăng sẽ thúc đẩy phân công lao động xã hội cùng với các kĩ 10 năng riêng biệt sẽ giúp tăng năng suất. Cái nhìn sâu sắc của Adam Smith về nguồn gốc gia tăng năng suất có thể đến từ công nghệ hoặc tiến bộ công nghệ là do nguồn nhân lực và nguồn vốn vật chất, công nghệ được kết hợp một cách hiệu quả. Karl Marx đồng ý với Adam Smith về quan điểm cho rằng sự phân chia lao động là một phần trung tâm của chủ nghĩa tư bản, nhưng ông cho rằng nâng cao năng suất lao động bằng tiến bộ công nghệ, cải tiến máy móc hay phân công lao động xã hội không phải là cách thúc đẩy tăng trưởng hoàn toàn có lợi.
Bởi vì, Marx cho rằng sự phát triển của chủ nghĩa tư bản sẽ dẫn đến máy móc thay thế lao động, kéo theo tình trạng thất nghiệp do tốc độ sa thải lao động lớn hơn tốc độ tái sử dụng lao động bị sa thải. Ngoài ra, theo Marx, sự phân chia lao động ngày càng tăng dẫn đến người lao động có tay nghề không cao và thiếu nhiệt tình với công việc, do họ chỉ làm một công đoạn cụ thể, một công việc lặp đi lặp lại của qui trình sản xuất mà không nắm được toàn bộ qui trình làm ra sản phẩm. Điều đó cũng dẫn đến người lao động ít sáng tạo và bị phụ thuộc nhiều hơn vào người sử dụng lao động. Lý thuyết nhị nguyên còn được biết đến với tên gọi là mô hình chuyển dịch cơ cấu trong nền kinh tế hai khu vực của Lewis (1954) đã lý giải quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động và cơ chế ảnh hưởng của quá trình này đến tăng trưởng kinh tế ở các nước nghèo và chậm phát triển.
Mô hình có những đặc điểm sau: Về cơ cấu kinh tế: nền kinh tế gồm hai khu vực: (1) ngành nông nghiệp truyền thống, (2) ngành công nghiệp hiện đại. Hai ngành này không đồng nhất về cấu trúc và không thể gộp làm một. Về cung lao động: không giới hạn về cung lao động giản đơn. Ngành nông nghiệp truyền thống luôn dư thừa lao động do không đáp ứng hết nhu cầu việc làm.
Số lao động này chuyển sang làm việc cho ngành công nghiệp hiện đại mà không làm giảm giá trị gia tăng của ngành nông nghiệp. Về cầu lao động và mức tiền công: ngành công nghiệp hiện đại có mức tiền công cao hơn, năng suất cao hơn, có lợi nhuận cao hơn và tái đầu tư mở rộng sản xuất dẫn đến tăng cầu về lao động. Những lao động nông nghiệp có mức thu nhập và năng suất thấp hơn sẵn sàng chuyển sang làm việc trong ngành công nghiệp hiện đại. Điều đó lý giải cho dòng dịch chuyển lao động từ ngành nông nghiệp có năng suất thấp sang ngành công nghiệp có năng suất cao hơn.
Quá trình này dẫn đến chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng tăng năng suất và góp phần tăng trưởng kinh tế. Rainis – Fei (1961) đã chỉ ra hai khiếm khuyết cơ cản của mô hình Lewis là: (i) Quá trình chuyển dịch cơ cấu có điểm dừng khi không còn lao động dư thừa trong ngành nông nghiệp, (ii) Bỏ qua thị trường hàng hóa và phát triển chỉ số giá hàng hóa 11 giữa các ngành. Nhằm khắc phục những hạn chế nêu trên, các tác giả đã xây dựng mô hình phát triển ba giai đoạn ở các nước nghèo. Giai đoạn thứ nhất: Có sự di chuyển lao động và chuyển dịch cơ cấu theo hướng tăng năng suất do dư thừa lao động trong ngành nông nghiệp.
Giai đoạn thứ hai: trong quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành, thị trường hàng hóa thay đổi, giá nông sản tăng tương đối so với giá hàng công nghiệp, lao động nông nghiệp dư thừa cạn dần, khả năng duy trì mức chênh lệch về tiền lương ngày một khó, ngành công nghiệp muốn tuyển thêm lao động thì phải tăng lương, do vậy phải giảm tích lũy, đầu tư, dẫn đến giảm năng suất.