Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc giáo dục ý thức bảo vệ đường biên giới Việt Nam - Trung Quốc trong dạy học Lịch sử cho học sinh THPT Chương 2: Một số nội dung giáo dục ý thức bảo vệ đường biên giới Việt Nam - Trung Quốc trong dạy học Lịch sử địa phương cho học sinh Trung học phổ thông tỉnh Lạng Sơn Chương 3: Một số biện pháp giáo dục và thực nghiệm 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC GIÁO DỤC Ý THỨC BẢO VỆ ĐƢỜNG BIÊN GIỚI VIỆT NAM – TRUNG QUỐC TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ CHO HỌC SINH THPT 1. Một số khái niệm 1. Ý thức Ý thức là một trong hai phạm trù thuộc vấn đề cơ bản của triết học. Nó là hình thức cao của sự phản ánh, của hiện thực khách quan, hình thức mà riêng con người mới có.
Theo từ điển Tiếng Việt định nghĩa: Ý thức là khả năng của con người phản ánh và tái hiện hiện thực vào trong tư duy; là sự nhận thức đúng đắn, biểu hiện bằng thái độ hành động cần phải có (ý thức được việc làm của mình) [30 , tr. Giáo dục ý thức Giáo dục là hoạt động nhằm tác động một cách có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của một đối tượng nào đó, làm cho đối tượng ấy dần dần có được những phẩm chất và năng lực như yêu cầu đề ra [30 , tr. Như vậy, giáo dục ý thức là sự phản ánh của hiện thực khách quan, hình thức thông qua quá trình giáo dục con người. Như ý thức về chủ quyền lãnh thổ tổ quốc, ý thức về chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc.
Giáo dục ý thức chính là quá trình giáo dục làm khơi dậy sự phản ánh của hiện thực khách quan cho con người, làm con người nhận thức đúng đắn, ý thức được thái độ hành động của mình. Đường biên giới lãnh thổ Cùng với việc hình thành và mở rộng lãnh thổ, biên giới quốc gia Việt Nam dần dần cũng hoàn thiện. Các nước trên thế giới đều xây dựng khái niệm biên giới quốc gia và chính thức ghi nhận trong một đạo luật về biên giới. Các khái niệm tuy khác nhau nhưng nhìn chung đều thể hiện hai dấu hiệu đặc trưng: 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Một là, biên giới quốc gia là giới hạn lãnh thổ của một quốc gia.
- Hai là, biên giới quốc gia xác định chủ quyền hoàn toàn và tuyệt đối của quốc gia đối với lãnh thổ (vùng đất, vùng trời, lòng đất). Kế thừa kinh nghiệm lập pháp của các nước trên thế giới. Điều 1 Luật Biên giới quốc gia của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định biên giới quốc gia như sau: ”Biên giới quốc gia của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là đường và mặt thẳng đứng theo đường đó để xác định giới hạn lãnh thổ đất liền, các đảo, các quần đảo trong đó có quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, vùng biển, lòng đất, vùng trời của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. 1] Biên giới quốc gia trên đất liền là biên giới phân chia chủ quyền lãnh thổ đất liền của một quốc gia với quốc gia khác.
Nó được hoạch định và phân giới cắm mốc thông qua đàm phán thương lượng với các nước có chung biên giới. Tuyến biên giới đất liền: Biên giới Việt Nam – Trung Quốc dài 1.306 km đã được hai nước kí kết Hiệp ước biên giới quốc gia trên đất liền, trong năm 2008 đã hoàn thành việc phân giới cắm mốc và kí Hiệp định quy chế quản lí biên giới. Cách xác định biên giới quốc gia Mỗi loại biên giới quốc gia được xác định theo các cách khác nhau. Riêng đối với biên giới quốc gia trên đất liền được hoạch định và đánh dấu trên thực địa bằng hệ thống mốc quốc giới.
Nguyên tắc chung hoạch định biên giới quốc gia trên đất liền bao gồm: - Biên giới quốc gia trên đất liền được xác định theo các điểm (toạ độ, điểm cao), đường (đường thẳng, đường sống núi, đường cái, đường mòn), vật chuẩn (cù lao, bãi bồi). - Biên giới quốc gia trên sông suối được xác định: Trên sông mà tàu thuyền đi lại được, biên giới được xác định theo giữa lạch của sông hoặc lạch chính của sông. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trên sông, suối mà tàu thuyền không đi lại được thì biên giới theo giữa sông suối đó. Trường hợp sông, suối đổi dòng thì biên giới vẫn giữ nguyên.
Biên giới trên cầu bắc qua sông, suối được xác định chính giữa cầu, không kể biên giới giữa sông, suối như thế nào. + Khi biên giới đã được xác định, cần có các biện pháp và phương pháp cố định biên giới đó, nghĩa là giữ cho biên giới luôn ở vị trí đã xác định, làm cho tất cả mọi người có thể nhận biết rõ ràng, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác bảo vệ, duy trì kiểm soát việc chấp hành các luật lệ và quy định về biên giới. Thông thường các nước trên thế giới sử dụng ba phương pháp để cố định đường biên giới quốc gia: Một là, dùng tài liệu ghi lại đường biên giới: mô tả đường biên giới trong hiệp ước biên giới và nghị định thư phân giới cắm mốc; mô tả bằng hình ảnh,. Hai là, đặt mốc quốc giới: các nước có chung biên giới theo thoả thuận về số lượng, hình dáng, kích thước, chất liệu, mốc chính, mốc phụ; phương pháp đặt mốc (trực tiếp hay mốc gián tiếp), cách đánh số hiệu, màu sắc,.
Ba là, dùng đường phát quang: nếu hai nước cùng phát quang thì biên giới là đường chính giữa hai đường phát quang ấy. Ở Việt Nam hiện nay mới dùng hai phương pháp: dùng tài liệu ghi lại đường biên giới và đặt mốc quốc giới, Chúng ta chưa có điều kiện làm đường phát quang vì địa hình rừng núi phức tạp, khí hậu nhiệt đới nên rừng cây rậm rạp khó có thể làm đường phát quang được. Việc xác định biên giới quốc gia trên đất liền thực hiện theo ba giai đoạn: hoạch định biên giới bằng điều ước quốc tế; phân giới trên thực địa (xác định đường biên giới); cắm mốc quốc giới để cố định đường biên giới. Khái niệm ”Lịch sử địa phương” Trong tiếng Việt, thuật ngữ ”địa phương” có nghĩa là ”những vùng, khu vực trong quan hệ với những vùng và khu vực khác trong nước”.
Như vậy, địa phương là những vùng đất nhất định nằm trong quốc gia, có những sắc thái, đặc thù riêng để phân biệt với những vùng đất khác, là bộ phận cấu thành của đất 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Hiểu theo nghĩa cụ thể, địa phương là những đơn vị hành chính của một quốc gia (tỉnh, thành phố, huyện, xã, phường, thị trấn, thôn sóc, buôn làng. Hiểu theo nghĩa trừu tượng, địa phương là những vùng đất, khu vực nhất định được hình thành trong lịch sử, có ranh giới tự nhiên (không giống địa giới hành chính) để phân biệt với các vùng khác như: miền Bắc, miền Trung, miền Nam,. Vậy lịch sử địa phương chính là lịch sử của các làng, xã, huyện, tỉnh, thành phố hay khu vực, vùng miền.
Cụ thể hơn, đó chính là lịch sử quá trình hình thành, tồn tại và phát triển của địa phương trong công cuộc xây dựng và bảo vệ quê hương. Lịch sử địa phương còn bao hàm ý nghĩa lịch sử của các đơn vị hành chính, các trường học, cơ quan, xí nghiệp. Trong dạy học lịch sử, chúng ta có thể sử dụng tài liệu lịch sử địa phương theo hai hình thức. Có thể đưa tài liệu – sự kiện lịch sử địa phương vào bài giảng lịch sử dân tộc để minh hoạ, liên hệ, đối chiếu, so sánh; qua đó giúp học sinh hiểu sâu sắc, cụ thể những sự kiện.
Hoặc tiến hành dạy học lịch sử địa phương thành một tiết riêng theo qui định của chương trình hoặc tổ chức các hoạt động ngoại khoá về lịch sử địa phương. Việc lựa chọn hình thức dạy học lịch sử địa phương phải căn cứ vào nội dung kiến thức bài học, điều kiện phương tiện giảng dạy ở nhà trường, đặc điểm tâm lý của học sinh và gắn mục tiêu giáo dưỡng – giáo dục bài học với điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương. Việc nghiên cứu, giảng dạy lịch sử địa phương đòi hỏi người giáo viên không chỉ có những hiểu biết cơ bản, đúng đắn về lịch sử thế giới, lịch sử dân tộc, phương pháp luận sử học và các phương pháp nghiên cứu lịch sử cụ thể mà còn phải biết tổ chức nghiên cứu, biết làm công tác quần chúng phục vụ nghiên cứu, biết xử lý, xác minh, giám định các nguồn sử liệu địa phương. Vai trò của dạy học lịch sử địa phương trong chương trình giáo dục Từ thời cổ đại, Xi–xê-rông – một chính trị gia nổi tiếng của Rô ma cổ đã nói: ”Lịch sử là thầy dạy của cuộc sống”.
Chính vì lẽ đó, sự hiểu biết về lịch sử dân tộc còn bao hàm cả sự am tường cần thiết về lịch sử địa phương, hiểu biết 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com về quê hương, xứ sở, nơi chôn nhau cắt rốn của mình, hiểu từ mối quan hệ giữa lịch sử địa phương và lịch sử dân tộc. Xuất phát từ những nhận thức đó, có thể khẳng định rằng việc dạy học lịch sử địa phương có ý nghĩa giáo dưỡng – giáo dục sâu sắc. Thứ nhất, dạy học lịch sử địa phương góp phần không nhỏ vào việc giáo dục tư tưởng chính trị, lao động, đạo đức, thẩm mỹ cho học sinh, hình thành cho các em lòng yêu nước, yêu chế độ xã hội chủ nghĩa. Mỗi sự kiện lịch sử địa phương đều gắn liền với tên đất, tên người cụ thể, gần gũi với cuộc sống, qua đó mà gợi ở các em niềm tự hào, lòng biết ơn, góp phần bồi dưỡng tình yêu quê hương, đây cũng là cội nguồn của lòng yêu nước, tự hào dân tộc.
Lòng yêu nước ấy bắt nguồn từ lòng yêu quê hương, xóm làng, tự hào về những chiến công của cha anh mình ngay chính trên mảnh đất quê hương khi đấu tranh chống kẻ thù xâm lược… Học sinh cũng tự hào về những thành tựu kinh tế, văn hóa và xã hội của địa phương từ trước đến nay, đặc biệt trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội. Học sinh không những tự hào về truyền thống anh hùng bất khuất trong sự nghiệp đấu tranh bảo vệ Tổ quốc mà đối với chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong xây dựng, sản xuất.