phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị và tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc chia làm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý công tác GDQP - AN cho sinh viên tại các cơ sở giáo dục Đại học Chƣơng 2: Thực trạng quản lý công tác GDQP và AN cho sinh viên Đại học Thái Nguyên Chƣơng 3: Một số biện pháp quản lý công tác GDQP và AN cho sinh viên Đại học Thái Nguyên 3 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC GDQP VÀ AN CHO SINH VIÊN TẠI CÁC CƠ SỞ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC 1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu 1. Trên thế giới Giáo dục quốc phòng và An ninh là vấn đề có ý nghĩa trọng yếu cho sự tồn vong của các quốc gia. Trên thế giới, nhiều nƣớc tổ chức giáo dục quốc phòng cho HS, SV nhƣ: Liên Bang Nga, Trung Quốc, Malaixia, Singapo, Hàn Quốc, Mỹ.
Ở Liên Bang Nga, việc nghiên cứu, quản lý công tác giáo dục ý thức quốc phòng cho cán bộ, viên chức, HS,SV đƣợc Nhà nƣớc Nga đặc biệt quan tâm, đã phần nào phản ảnh đƣợc yêu cầu bức thiết quản lý giáo dục quốc phòng cho thế hệ trẻ ở Nga trƣớc sự vận động, phát triển mau lẹ của tình hình quốc tế và đất nƣớc Nga hiện nay. Ở Trung Quốc, nƣớc này thƣờng xuyên quan tâm, chú trọng quản lý công tác giáo dục ý thức quốc phòng, bảo vệ đất nƣớc cho các tầng lớp nhân dân, đặc biệt là thế hệ HS, SV - những trí thức tƣơng lai, chủ thể xây dựng chế độ. Giáo dục quốc phòng do Bộ Quốc phòng đảm nhiệm. Theo kế hoạch hàng năm của Chính phủ, từng trƣờng ĐH đƣa SV tới các đơn vị quân đội để học GDQP với thời gian 2 tháng.
Ở Malaixia, nghiên cứu về QP và tổ chức GDQP cho ngƣời học đƣợc tiến hành thƣờng xuyên và rộng khắp, đạt chất lƣợng tốt. Theo kế hoạch năm của nhà nƣớc, thanh niên từ 18 đến 25 tuổi đƣợc tập trung tại các TT GDQP để học GDQP với thời gian 3 tháng. Các học phần lý thuyết do giảng viên các trƣờng ĐH giảng dạy, các học phần thực hành do sĩ quan quân đội giảng dạy. Ở Singapo, Nhà nƣớc đầu tƣ xây dựng và giao cho Bộ Quốc phòng quản lý các TT GDQP.
Theo kế hoạch năm, thanh niên từ 18 đến 25 tuổi đƣợc tập trung tại các TT GDQP để học GDQP với thời gian 3 tháng. 4 Ở Hàn Quốc, môn học quân sự là môn học tự chọn, các trƣờng CĐ, ĐH giảng dạy học phần lý thuyết. Nam giới trong độ tuổi từ 18 đến 25 tuổi bắt buộc phải thực hiện nghĩa vụ quân sự tại các đơn vị quân đội. Tại đây, SV sẽ đƣợc trang bị kiến thức phần thực hành về quân sự, thời gian huấn luyện là 3 tháng.
Ở nƣớc Mỹ, từ năm 1958, Quốc hội Mỹ đã thông qua "Luật Giáo dục quốc phòng”. Giáo dục chủ nghĩa yêu nƣớc là nội dung cốt lõi của GDQP. Trọng điểm GDQP Mỹ là: Yêu đất nƣớc, biết phục tùng, trọng đoàn thể, chịu cống hiến. Trong GDQP, nhiệm vụ của ngƣời sĩ quan Mỹ là phải nói cho HS biết, một ngƣời không biết phục tùng không phải là một ngƣời hoàn chỉnh.
Phục tùng cấp trên, phục tùng đoàn thể, phục tùng quốc gia là tố chất cơ bản cần có của một con ngƣời hoàn chỉnh. Giáo dục quốc phòng ở Mỹ đƣợc tổ từ các trƣờng tiểu học. Việc bồi dƣỡng huấn luyện ngoài quân đội chia làm 2 lớp: Lớp thứ nhất, có đặc điểm không tiến hành theo đại cƣơng dạy học của trƣờng, mà tổ chức theo thiếu sinh quân truyền thống; Lớp thứ hai là SV các học viện, trƣờng ĐH. Lớp này đƣợc tiến hành theo hình thức bồi dƣỡng sĩ quan ngạch dự bị, đƣợc gọi là Trung đoàn huấn luyện sĩ quan ngạch dự bị.
Ở Việt Nam Việt Nam trải qua nghìn năn dựng nƣớc và giữ nƣớc, quy luật dựng nƣớc phải đi đôi với giữ nƣớc là đã đƣợc dân tộc ta đúc kết nên trong lịch sử. Nhận thức đƣợc quy luật dựng nƣớc phải đi đôi với giữ nƣớc, đồng thời tiếp tục phát huy giá trị truyền thống của dân tộc trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã sớm có những chủ trƣơng, giải pháp mang tính chiến lƣợc về vấn đề QP, AN và GDQP và AN. Từ năm 1961, thực hiện Nghị định số 219/CP của Hội đồng Chính phủ, “Huấn luyện quân sự” đƣợc đặt thành một môn học chính trong nhà trƣờng phổ thông. Năm 1966, Bộ Đại học Trung học chuyên nghiệp (nay là Bộ GDĐT) ban hành chƣơng trình huấn luyện quân sự thống nhất trong các trƣờng ĐH, CĐ và 5 THCN.
Điều 17 Luật Nghĩa vụ quân sự trƣớc đây và Luật sửa đổi và bổ sung Luật Nghĩa vụ quân sự quy định “Việc huấn luyện quân sự phổ thông cho HS các trƣờng phổ thông trung học, trƣờng dạy nghề, trƣờng THCN, trƣờng CĐ và ĐH thuộc chƣơng trình chính khóa. Môn học “Huấn luyện quân sự phổ thông” đƣợc Luật định là môn học chính khóa trong các nhà trƣờng”. Đến năm 1991, Chủ tịch Hội đồng Bộ trƣởng (nay là Thủ tƣớng Chính phủ) ban hành Chỉ thị 420/CT về GDQP và đào tạo sĩ quan dự bị trong HS,SV; tiếp tục khẳng định: ”GDQP là yêu cầu không thể thiếu đƣợc trong chƣơng trình ở các trƣờng PTTH, DN, TCCN, CĐ, ĐH, kể cả quốc lập dân lập và các loại hình đào tạo khác; là nhiệm vụ quan trọng trong chiến lƣợc đào tạo con ngƣời mới nhằm giáo dục cho thế hệ trẻ nói chung và cho HS,SV lòng yêu nƣớc, yêu CNXH, ý thức tổ chức kỷ luật, tinh thần tập thể, tƣ duy và kiến thức quân sự, chuẩn bị nhân lực và đào tạo nhân tài cho nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc”. Nhƣ vậy, kể từ năm 1991 Chƣơng trình Huấn luyện QS phổ thông cho HS,SV đƣợc đổi tên thành Chƣơng trình GDQP.
Ngày 10/7/2007, Chính phủ ban hành Nghị định số 116/2007/NĐ-CP về GDQP và AN, theo đó Chƣơng trình GDQP cho HS,SV đƣợc sửa đổi bổ sung kiến thức về AN và cập nhật kiến thức QP, QS. Chƣơng trình GDQP và AN trình độ ĐH, CĐ đƣợc ban hành theo Quyết định 81/2004/QĐ -BGDĐT ngày 24/12/2007 (thay thế Chƣơng trình môn GDQP ban hành theo Quyết định 12/2000/QĐ-BGD&ĐT). Từ đây, môn học GDQP chính thức đổi thành GDQP- AN. Giáo dục quốc phòng và An ninh là môn học duy nhất đƣợc Luật định (Luật Quốc phòng, Luật Nghĩa vụ quân sự), đƣợc Đảng và Nhà nƣớc quan tâm, đƣợc quy định trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật, đƣợc xác định cụ thể về mục tiêu, thời gian và kiến thức tối thiểu.
Gần đây nhất là Chỉ thị 12 -CT/TW ngày 03/5/2007 của Bộ Chính trị về tăng cƣờng sự lãnh đạo của Đảng với công tác GDQP, AN trong tình hình mới; nhằm góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện đối với thế hệ trẻ HS,SV trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. 6 Những chủ trƣơng, giải pháp, văn bản quy phạm pháp luật về quản lý GDQP và AN đã tạo thành cơ sở pháp lý cho công tác GDQP và AN ở trong mỗi nhà trƣờng cũng nhƣ trong hệ thống giáo dục quốc dân. Hơn thế nữa, những chủ trƣơng, giải pháp và những văn bản đó là kết quả của sự nghiên cứu từ thực tiễn chỉ đạo, quản lý GDQP-AN ở Việt Nam và sự vận dụng lý luận về quản lý giáo dục trong tình hình mới. Hiện nay, vấn đề QP và AN quốc gia đang đƣợc đặt ra nhƣ một vấn đề thời sự nóng hổi của nhiều quốc gia trên thế giới, khu vực và trong nƣớc.
Quản lý, nâng cao chất lƣợng GDQP và AN cho cán bộ, công chức, viên chức, HS, SV là vấn đề luôn thu hút sự quan tâm của lãnh đạo, các chuyên gia hoạch định chính sách, nhà nghiên cứu và những ngƣời làm công tác quản lý, giáo dục ở nhiều nƣớc trên thế giới. Các khái niệm cơ bản của đề tài 1. Quốc phòng Quốc phòng là công việc giữ nƣớc của một quốc gia, gồm tổng thể hoạt động đối nội và đối ngoại về quân sự, chính trị, kinh tế, văn hoá, khoa học. của nhà nƣớc và nhân dân để phòng thủ đất nƣớc, tạo nên sức mạnh toàn diện; trong đó, sức mạnh quân sự là đặc trƣng, nhằm giữ gìn hoà bình, đẩy lùi, ngăn chặn các hoạt động gây chiến của kẻ thù và sẵn sàng đánh th ắng chiến tranh xâm lƣợc dƣới mọi hình thức và quy mô.
Quốc phòng của Việt Nam là hoạt động của cả nƣớc, với sức mạnh tổng hợp, trong đó sức mạnh quân sự là đặc trƣng, sức mạnh của lực lƣợng vũ trang làm nòng cốt. Quốc phòng không chỉ kết hợp chặt chẽ với An ninh để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ chế độ, mà còn phải kết hợp chặt chẽ với kinh tế để bả o vệ và xây dựng đất nƣớc. Quốc phòng toàn dân của Việt Nam đƣợc xây dựng trên cơ sở phƣơng pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Quốc phòng toàn dân đặt dƣới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý, điều 7 hành của Nhà nƣớc.
Tổ chức quốc phòng của nƣớc ta thể hiện bản chất XHCN, kế thừa, phát huy truyền thống của dân tộc và phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của đất nƣớc Việt Nam, phụ thuộc trực tiếp vào sự lãnh đạo của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nƣớc Việt Nam XHCN. Quốc phòng toàn dân là quan điểm cơ bản của Đảng, Nhà nƣớc ta trong chỉ đạo xây dựng nền quốc phòng của đất nƣớc. Nền quốc phòng của nƣớc ta mang tính chất vì dân, do dân, của nhân dân đƣợc xây dựng và phát triển theo phƣơng hƣớng: toàn dân, toàn diện, độc lập, tự chủ, tự lực, tự cƣờng và ngày càng hiện đại. Xây dựng nền quốc phòng toàn dân là quan điểm cơ bản, nhất quán của Đảng ta trong chỉ đạo công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN, là trách nhiệm của toàn dân, của cả hệ thống chính trị, trong đó lực lƣợng vũ trang là nòng cốt.
Xây dựng QP toàn dân ở nƣớc ta trong giai đoạn mới là: toàn diện, từng bƣớc hiện đại, dựa vào lực lƣợng của toàn dân, bảo đảm cho đất nƣớc hòa bình, ổn định để phát triển về mọi mặt, đồng thời phòng, chống và răn đe có hiệu quả trƣớc mắt mọi âm mƣu, thủ đoạn xâm lƣợc của kẻ thù. An ninh An ninh quốc gia là sự ổn định, phát triển bền vững của chế độ XHCN và Nhà nƣớc Cộng hoà XHCN Việt Nam, sự bất khả xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc.