phần Mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận văn gồm 03 chƣơng: Chƣơng 1: Một số vấn đề về tranh chấp thƣơng mại và các phƣơng thức giải quyết tranh chấp thƣơng mại. Chƣơng 2: Thực trạng và nguyên nhân của việc áp dụng pháp luật hình sự trong giải quyết tranh chấp thƣơng mại trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. Chƣơng 3: Một số giải pháp hạn chế áp dụng pháp luật hình sự trong giải quyết các tranh chấp thƣơng mại. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ TRANH CHẤP THƢƠNG MẠI VÀ CÁC PHƢƠNG THỨC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP THƢƠNG MẠI 1.
Khái niệm và đặc điểm tranh chấp thƣơng mại 1. Hoạt động thương mại Hoạt động thƣơng mại là hoạt động của cá nhân, tổ chức kinh doanh trong các lĩnh vực mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, phân phối; đại diện đại lý thƣơng mại; ký gửi; thuê, cho thuê; thuê, mua; xây dựng; tƣ vấn; kỹ thuật; li - xăng; đầu tƣ; tài chính, ngân hàng; bảo hiểm; thăm dò khai thác; vận chuyển hàng hóa, hành khách bằng đƣờng hàng không, đƣờng biển, đƣờng sắt, đƣờng bộ và các hành vi thƣơng mại khác theo quy định của pháp luật nhằm tìm kiếm lợi nhuận. Các giao dịch mà LTM điều chỉnh là các giao dịch nhằm mục tiêu lợi nhuận và đƣợc thƣơng nhân sử dụng thƣờng xuyên nhƣ nghề nghiệp của họ. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 3 LTM năm 2005 thì: “Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác”[11].
Cũng theo LTM năm 2005 thì chủ thể của hoạt động thƣơng mại là tổ chức, cá nhân khác hoạt động có liên quan đến thƣơng mại. Cá nhân là một ngƣời cụ thể, có năng lực pháp luật và năng lực hành vi. Cá nhân có thể thực hiện việc kinh doanh dƣới hình thức doanh nghiệp tƣ nhân hoặc hộ kinh doanh. Theo Nghị định số 88/2006/NĐ-CP ngày 29/8/2006 của Chính phủ về đăng ký kinh doanh thì hộ kinh doanh có thể là cá nhân công dân Việt Nam hoặc một nhóm ngƣời hoặc một hộ gia đình làm chủ.
Tổ chức là những loại hình kinh doanh đƣợc pháp luật thừa nhận, đƣợc thành lập hợp pháp. Theo quy định của pháp luật hiện hành, các tổ chức đang 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tiến hành các hoạt động kinh doanh tại nƣớc ta là: Hợp tác xã, các loại hình doanh nghiệp nhƣ công ty tƣ nhân, công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên hoặc nhiều thành viên, công ty cổ phần.Tổ chức trong luật thƣơng mại không đồng nghĩa với tổ hợp tác. Cá nhân hoặc tổ chức khi hoạt động thƣơng mại phải có nghĩa vụ đăng ký kinh doanh. Theo quy định của pháp luật hiện hành thì cá nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác kinh doanh theo hình thức “hộ kinh doanh” là chủ thể của luật thƣơng mại còn những hộ gia đình sản xuất nông, lâm, ngƣ nghiệp, làm muối và những ngƣời bán hàng rong, quà vặt, buôn chuyến, kinh doanh lƣu động làm dịch vụ có thu nhập thấp không phải đăng ký kinh doanh, trừ những trƣờng hợp kinh doanh các ngành nghề có điều kiện.
Mặc dù họ vẫn tiến hành hoạt động thƣơng mại nhƣng không phải là đƣơng sự trong vụ án kinh doanh thƣơng mại. Hoạt động thƣơng mại là hoạt động nhằm tìm kiếm lợi nhuận. Đƣợc coi là hoạt động thƣơng mại khi thỏa mãn các điều kiện nhƣ hoạt động độc lập, thƣờng xuyên và có đăng kí kinh doanh. Hoạt động độc lập đƣợc hiểu là không phụ thuộc vào ngƣời khác mà có quyền tự quyết định hoạt động kinh doanh của mình và tự chịu trách nhiệm đối với những hoạt động kinh doanh do mình giao kết và thực hiện.
Đây đƣợc xem là điều kiện cần phải có trong quá trình kinh doanh thƣơng mại, là một phần không thể thiếu trong thƣơng mại và nó tác động không nhỏ đến quá trình hoạt động nhằm kiếm tìm lợi nhuận. Hoạt động thƣờng xuyên tức là nói lên tính chuyên nghiệp của thƣơng nhân, thƣờng xuyên cũng có nghĩa là lâu dài và là nghề nghiệp sinh sống của họ. Những ngƣời mà hoạt động thƣơng mại không phải là nghề nghiệp của họ thì không phải là thƣơng nhân. Hoạt động thƣờng xuyên và liên tục để tạo ra lợi nhuận trong một thời gian dài đƣợc coi là điều kiện tiên quyết trong quá trình hoạt động thƣơng mại.
Bởi lẽ, nó tạo tính chuyên nghiệp, lâu dài và bền 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vững bên cạnh đó nó còn thể hiện tính nghề nghiệp chuyên sâu của một thƣơng nhân, khẳng định lại một lần nữa, không coi hoạt động thƣơng mại là là nghề nghiệp mà chỉ đơn thuần là tác nghiệp khi có điều kiện thì đó không đƣợc đƣợc gọi là thƣơng nhân. Tại Điều 6 của LTM năm 2005 đã quy định: “ Thương nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh” Nhƣ vậy, hoạt động thƣờng xuyên liên tục là điều kiện cần phải có trong bất cứ hình thức kinh doanh thƣơng mại nào. Tuy vậy, việc kinh doanh hợp pháp hóa là điều kiện đủ để thể hiện tính hợp pháp của hoạt động kinh doanh thƣơng mại. Đăng ký kinh doanh thể hiện tính hợp pháp của hoạt động kinh doanh của thƣơng nhân.
Tuy nhiên theo Điều 7 của LTM năm 2005, trƣờng hợp thƣơng nhân chƣa đăng ký kinh doanh, thƣơng nhân vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của mình theo quy định của LTM và quy định khác của pháp luật. Sở dĩ việc quy định nhƣ vậy là vì có những trƣờng hợp kinh doanh mang tính chất nhỏ lẻ, vốn ít hoặc những hàng hóa mang tính chất lẻ tẻ, hoặc không đủ điều kiện để thành lập doanh nghiệp. ngƣời kinh doanh không đăng kí kinh doanh nhƣng vẫn phải đóng thuế và thực hiện các nghĩa vụ và trách nhiệm của ngƣời tham gia hoạt động kinh doanh. Tranh chấp thương mại Tranh chấp thƣơng mại là một hiện tƣợng khá phổ biến xảy ra trong nền kinh tế, nó làm chậm quá trình lƣu thông hàng hóa, quá trình thanh toán, tác động xấu đến sự phát triển của nền kinh tế.
Vì vậy vấn đề đặt ra là cần có các phƣơng thức giải quyết tranh chấp thƣơng mại một cách hiệu quả và đƣợc pháp luật công nhận. Pháp luật Việt Nam mà cụ thể là LTM năm 2005 đã ghi 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhận sự tồn tại của bốn phƣơng thức giải quyết tranh chấp thƣơng mại đó là: Thƣơng lƣợng, hòa giải, trọng tài thƣơng mại và tòa án. Thuật ngữ “tranh chấp phát sinh từ hoạt động kinh doanh, thƣơng mại” hay “tranh chấp thƣơng mại” đƣợc định nghĩa không giống nhau trong các văn bản pháp luật điều chỉnh các phƣơng thức giải quyết tranh chấp khác nhau. Trên thực tế, để thụ lý, giải quyết vụ án dân sự nói chung, kinh doanh thƣơng mại nói riêng, Tòa án phải dựa vào yêu cầu cụ thể của ngƣời khởi kiện để xác định quan hệ pháp luật mà đƣơng sự tranh chấp.
Từ đó, đối chiếu với các quy định về thẩm quyền của BLTTDS để xác định yêu cầu khởi kiện của đƣơng sự có thuộc thẩm quyền của Tòa án hay không. Việc xác định quan hệ pháp luật tranh chấp còn có ý nghĩa quan trọng trong việc áp dụng pháp luật nội dung (điều chỉnh quyền và nghĩa vụ giữa các bên) trong việc giải quyết yêu cầu của đƣơng sự. Thực tiễn xác định quan hệ pháp luật tranh chấp về kinh doanh thƣơng mại không hề dễ dàng bởi lẽ tùy từng thời kỳ phát triển khác nhau mà cơ quan lập pháp quy định một số quan hệ xã hội cần đƣợc điều chỉnh bằng quy phạm pháp luật thƣơng mại bên cạnh đó một số quan hệ xã hội khác thì chƣa nên không phải cứ có tranh chấp sẽ dễ dàng xác định đƣợc quan hệ pháp luật tranh chấp về kinh doanh thƣơng mại, trong khi đó có rất nhiều phƣơng thức để giải quyết tranh chấp thƣơng mại. Tranh chấp thƣơng mại theo nghĩa khái quát nhất là sự bất đồng chính kiến, mâu thuẫn hay xung đột về lợi ích, về quyền lợi và nghĩa vụ giữa các chủ thể tham giam hoạt động thƣơng mại.
Đây là loại tranh chấp phổ biến nhất, thƣờng xuyên nhất phát sinh trong hoạt động kinh doanh của các chủ thể kinh doanh với nhau trong hoạt động thƣơng mại. Ở Việt Nam, khái niệm tranh chấp thƣơng mại trong từng giai đoạn khác nhau cũng có nhiều cách hiểu khác nhau. Lần đầu tiên khái niệm tranh 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chấp thƣơng mại đƣợc đƣa ra trong LTM năm 1997 và tiếp tục đƣợc khẳng định trong Pháp lệnh về Trọng tài thƣơng mại 2003. Tại Điều 238 LTM năm 1997 nêu rõ: “Tranh chấp thương mại là tranh chấp phát sinh do việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nội dung trong hoạt động thương mại” [5].
Nhƣ vậy, lần đầu tiên khái niệm tranh chấp thƣơng mại đƣợc đƣa ra đã cho ta hiểu một cách khái quát về khái niệm tranh chấp thƣơng mại cũng nhƣ cho ta thấy quan điểm của các nhà làm luật Việt Nam về vấn đề này. Cùng một quan hệ xã hội nhƣng lại thuộc phạm vi điều chỉnh của nhiều ngành luật khác nhau. Mặc dù, mỗi ngành luật đều có những quy định để phân biệt quan hệ pháp luật nào thuộc ngành luật nào điều chỉnh nhƣ về chủ thể tham gia quan hệ, mục đích chủ thể, đối tƣợng của giao dịch…nhƣng việc phân biệt cũng không hề dễ dàng. Khác với tranh chấp trong dân sự, tranh chấp thƣơng mại thƣờng có giá trị rất lớn, mức độ ảnh hƣởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh rất cao thậm chí có thể tác động tới hoạt động của cả hệ thống kinh doanh của nền kinh tế.
Do đó, việc giải quyết thoả đáng, nhanh gọn, hiệu quả, kịp thời tranh chấp thƣơng mại là yêu cầu hết sức cần thiết. Tranh chấp thƣơng mại có tính phản ứng dây chuyền. Nó xảy ra trong một công đoạn nào đó của chu trình sản xuất kinh doanh và thƣờng có mối quan hệ hữu cơ với các công đoạn khác. Nếu không giải quyết dứt điểm, kịp thời có thể làm phát sinh những tranh chấp tiếp theo trong nền kinh tế.
Tóm lại, tranh chấp thƣơng mại là tranh chấp phát sinh trong đời sống kinh tế - xã hội. Vì vậy, nó cũng hội tụ đầy đủ những đặc điểm của một tranh chấp nói chung.