Chương 1: Những vấn đề lý luận về vai trò của Viện kiểm sát trong thủ tục giám đốc thẩm. Chương 2: Thực tiễn về vai trò của Viện kiểm sát trong thủ tục giám đốc thẩm. Chương 3: Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao vai trò của Viện kiểm sát trong thủ tục giám đốc thẩm. Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT TRONG THỦ TỤC GIÁM ĐỐC THẨM 1.
VAI TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT TRONG THỦ TỤC GIÁM ĐỐC THẨM 1. Khái niệm vai trò của Viện kiểm sát trong thủ tục giám đốc thẩm Cũng như thông lệ quốc tế, các hoạt động tố tụng hình sự trong pháp luật Việt Nam đều nhằm phát hiện và xử lý chính xác, kịp thời và công minh mọi hành vi phạm tội, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tập thể và công dân. Để đạt được 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mục đích đó, Bộ luật tố tụng hình sự quy định các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự phải áp dụng mọi biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ. Tuy nhiên, trong thực tế, do nhiều nguyên nhân khác nhau, có lúc, có nơi việc giải quyết vụ án của các cơ quan tiến hành tố tụng còn để lọt tội phạm, làm oan người vô tội, xét xử quá nặng, quá nhẹ hoặc có những vi phạm pháp luật cần khắc phục, sửa chữa.
Quá trình tố tụng hình sự bao gồm nhiều giai đoạn khác nhau, trong đó giai đoạn trước là tiền đề cần thiết cho việc thực hiện nhiệm vụ của giai đoạn sau, giai đoạn sau lại là sự kiểm nghiệm kết quả của giai đoạn trước. Chính vì vậy, một mặt để đảm bảo nguyên tắc của luật tố tụng hình sự Việt Nam là thực hiện chế độ hai cấp xét xử sơ thẩm và phúc thẩm, đồng thời vẫn bảo đảm quyền con người được bảo vệ ở mức cao nhất với phương châm mọi oan sai trong vụ án đều được khắc phục bởi các thủ tục tố tụng công khai, dân chủ, Bộ luật tố tụng hình sự quy định một thủ tục tố tụng đặc biệt - thủ tục giám đốc thẩm "là xét lại bản án hoặc quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì phát hiện có vi phạm nghiêm trọng trong việc xử lý vụ án", bởi lẽ: Một là, giám đốc thẩm không phải là việc xét xử lại vụ án mà là xét lại bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật khi phát hiện bản án, quyết định đó có vi phạm nghiêm trọng, bị kháng nghị; Hai là, không phải bất cứ trường hợp nào bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật có vi phạm cũng được tiến hành xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm, mà phải là các trường hợp bản án, quyết định đó của Toà án có vi phạm nghiêm trọng mới được xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm; Ba là, việc đặt ra thủ tục giám đốc thẩm không phải là phổ biến đối với mọi vụ án hoặc phần lớn số vụ án mà chỉ là trường hợp thật đặc biệt mới đặt ra, cho nên nó chỉ là hãn hữu, là rất ít. 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Để đưa một bản án hay quyết định của Tòa án ra xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm cần phải có đủ các điều kiện sau: - Một là, chỉ thực hiện đối với bản án hoặc quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Theo quy định tại khoản 1, Điều 255 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, những bản án và quyết định có hiệu lực pháp luật bao gồm: (1) những bản án và quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo trình tự phúc thẩm; (2) những bản án và quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm; (3) những quyết định của Tòa án cấp giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.
- Hai là, có sự vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc xử lý vụ án. - Ba là, có kháng nghị của người có thẩm quyền. Là một thủ tục tố tụng đặc biệt, xong ở mỗi hệ thống pháp luật khác nhau mà quan niệm về thủ tục giám đốc thẩm cũng có sự khác nhau. Trong hệ thống pháp luật của một số quốc gia trên thế giới theo truyền thống luật án lệ thường không quy định thủ tục giám đốc thẩm hay thủ tục phá án mà việc kháng cáo được tiến hành theo thủ tục tố tụng tại Tòa kháng cáo với nhiều loại thủ tục khác nhau như pháp luật Australia hay pháp luật Hoa Kỳ.
Theo hệ thống pháp luật của những nước này thì đều coi các bản án, quyết định đã tuyên của Tòa án cấp thứ nhất (tòa sơ thẩm) là phán quyết cuối cùng và có hiệu lực pháp luật ngay sau khi tuyên án; tuy nhiên các cấp tòa án cao hơn vẫn có thể xem xét lại các bản án, quyết định đã tuyên của tòa án cấp thấp hơn nếu bị kháng cáo hay kháng nghị. Việc xem xét lại các phán quyết cuối cùng này cùng có phần tương tự như thủ tục xét lại bản án có hiệu lực pháp luật hoặc lời kết tội của quy chế Rôma về Tòa hình sự quốc tế (ICC). Điều 84, quy chế Rôma: "Người bị kết án hoặc nếu người đó chết thì vợ hoặc chồng, con, cha, mẹ hoặc một người đang sống vào thời điểm bị cáo chết mà được người đó chỉ dẫn rõ ràng bằng văn bản việc đệ đơn khiếu nại, hoặc Trưởng công tố 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com có quyền đề nghị Hội đồng Phúc thẩm xét lại phán quyết cuối cùng về lời buộc tội hoặc bản án". Tuy khác nhau về tên gọi, nhưng việc các chủ thể "khiếu nại" hay "đề nghị" hoặc "kháng cáo" hay "kháng nghị" đều là căn cứ để bắt đầu thủ tục tố tụng kháng cáo và có cùng nội dung là yêu cầu Hội đồng Phúc thẩm xét lại lời kết tội hay bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật.
Trái lại, ở những quốc gia theo truyền thống luật lục địa (luật dân sự), thường thực hiện chế độ "hai cấp xét xử" thì lại có sự quy định cụ thể thủ tục giám đốc thẩm hay thủ tục phá án như pháp luật Cộng hòa Pháp, pháp luật Liên bang Nga, pháp luật Trung Hoa…Theo đó, sau khi vụ án được xét xử theo thủ tục sơ thẩm, bản án, quyết định sơ thẩm không có hiệu lực ngay mà có thể bị kháng cáo hoặc kháng nghị theo trình tự phúc thẩm, bản án phúc thẩm có hiệu lực ngay sau khi tuyên án. Mặc dù vậy, ngay cả khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật nhưng nếu phát hiện có vi phạm nghiêm trọng trong quá trình tiến hành tố tụng thì Tòa án cấp trên vẫn có quyền xét lại bản án theo một thủ tục đặc biệt gọi là thủ tục giám đốc thẩm hay thủ tục phá án. Pháp luật Việt Nam vừa có những nét tương đồng với pháp luật thế giới để phù hợp với bối cảnh hội nhập quốc tế mạnh mẽ hiện nay, lại có những đặc thù riêng đáp ứng nhu cầu về tình hình trị an, đặc điểm văn hóa xã hội trong nước. Việc xét lại bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo trình tự giám đốc thẩm là thủ tục tố tụng đặc biệt và có những đặc thù so với xét xử sơ thẩm, phúc thẩm và tái thẩm.
Thủ tục giám đốc thẩm được hiểu là việc "xét lại bản án, quyết định" có hiệu lực pháp luật khi bản án, quyết định đó bị kháng nghị vì có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc xử lý vụ án chứ không phải là thủ tục "xét xử lại vụ án". Và do vậy, chỉ khi có một trong những căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm theo quy định tại Điều 273 BLTTHS năm 2003 thì người có thẩm quyền kháng nghị mới được thực hiện quyền kháng nghị và Tòa án mới tiến hành xét lại bản án theo thủ tục giám 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đốc thẩm. Trong thủ tục giám đốc thẩm, vai trò của Viện kiểm sát nhân dân là không thể thiếu: vừa là chủ thể có trách nhiệm phát hiện ra những thiếu sót, sai lầm trong bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật đồng thời thực hiện quyền kháng nghị giám đốc thẩm để sửa chữa, khắc phục những sai lầm đó; vừa là chủ thể đảm bảo cho hoạt động xét xử giám đốc thẩm được tiến hành đúng quy định của pháp luật. Theo quy định của Hiến pháp hiện hành thì Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thuộc nhánh quyền tư pháp trong cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước, chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp là hai chức năng hiến định của Viện kiểm sát.
Do đặc thù của từng giai đoạn, từng thủ tục tố tụng mà hình thức thể hiện các dạng quyền năng tương ứng với từng giai đoạn như quyền truy tố, xét hỏi, tranh luận, luận tội, phát biểu ý kiến, kết luận kháng nghị… cũng khác nhau. Ở giai đoạn này, chức năng công tố của Viện kiểm sát vẫn tiếp tục được duy trì, quyền công tố thể hiện rõ nét nhất chính là quyền kháng nghị giám đốc thẩm, hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật cũng xoay quanh việc kháng nghị hay không kháng nghị giám đốc thẩm. Quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát là căn cứ giúp cho Hội đồng giám đốc thẩm quyết định việc chấp nhận hay bác bỏ các nội dung kháng nghị cho rằng bản án đã có hiệu lực pháp luật có sai lầm nghiêm trọng. Qua đó đảm bảo việc đưa bản án đã có hiệu lực pháp luật ra thi hành đúng đắn, phù hợp với chân lý khách quan, góp phần bảo vệ quyền con người xét trên cả hai góc độ: bảo vệ công dân trước sự xâm hại của các loại tội phạm và bảo đảm quyền và lợi ích của người bị kết án.
Để hoàn thành vai trò quan trọng của mình, theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, với tư cách là cơ quan tiến hành tố tụng trong thực hiện thủ tục giám đốc thẩm vụ án hình sự, Viện kiểm sát nhân dân cũng có những quyền hạn nhất định gắn liền với trách nhiệm, nhiệm vụ cụ thể tương ứng và phù hợp với chức năng của ngành kiểm sát nhân dân. Cụ thể: quyền kháng nghị theo thủ tục 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.