mở đầu cho quá trình phát triển nghề luật sư ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới. Pháp lệnh tổ chức luật sư quy định tiêu chuẩn để được công nhận là luật sư, chức năng, nhiệm vụ và lĩnh vực giúp đỡ pháp lý của luật sư. Pháp lệnh cũng quy 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com định về việc tổ chức các Đoàn luật sư ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Chỉ sau gần 10 năm, ở hầu hết ở các tỉnh, thành phố đã thành lập được Đoàn luật sư, với đội ngũ luật sư lên tới hàng nghìn người.
Hoạt động nghề nghiệp luật sư cũng đã có bước phát triển đáng kể. Ngoài việc tham gia tố tụng, các luật sư đã từng bước mở rộng hoạt động nghề nghiệp sang lĩnh vực tư vấn pháp luật và thực hiện các dịch vụ pháp lý khác. Trải qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung, đến năm 2006 Luật Luật sư được ban hành đã góp phần nâng cao vị thế của luật sư, tạo cơ sở pháp lý đẩy nhanh quá trình xây dựng đội ngũ luật sư, nghề luật sư mang tính chuyên nghiệp, ngang tầm với nghề luật sư ở các nước tiên tiến trên thế giới. Đặc biệt, Luật Luật sư đã quy định hoàn chỉnh hệ thống các tổ chức xã hội - nghề nghiệp của Luật sư từ Trung ương tới các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
Như vậy, so với nhiều quốc gia khác trên thế giới, nghề luật sư xuất hiện tại Việt Nam muộn hơn. Đó là hệ quả trực tiếp do quá trình xâm nhập của nền văn minh phương Tây tạo ra. Quá trình xây dựng, sửa đổi, ban hành những quy định pháp luật về luật sư cho thấy, nghề luật sư được Đảng và Nhà nước quan tâm. Trong thời gian tới, để phát triển nghề luật sư, đáp ứng yêu cầu hoàn thiện nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Đại hội XII của Đảng xác định: “Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của luật sư, bổ trợ tư pháp”.
Luật sư hành nghề bằng kiến thức pháp luật, kỹ năng nghề nghiệp của cá nhân luật sư. Nói cách khác, phẩm chất và năng lực cá nhân của luật sư là yếu tố quyết định trong nghề luật sư. Người muốn hành nghề luật phải được công nhận là luật sư. Pháp luật các nước trên thế giới thường không đưa ra khái niệm luật sư mà chỉ quy định về tiêu chuẩn (qualification) để trở thành luật sư.
Tiêu chuẩn phổ biến để được công nhận luật sư là: a) Là công dân ở nước sở tại; b) Có bằng cử nhân luật; c) Có phẩm chất đạo đức tốt. Ngoài các tiêu chuẩn trên, muốn trở thành luật sư phải qua đào tạo nghề, tập sự hành nghề luật sư hoặc chỉ cần đỗ kỳ thi quốc gia để được công nhận luật sư, 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com điều đó còn phụ thuộc vào quy định pháp luật mỗi nước. Hiện nay theo quy định của pháp luật Việt Nam thì luật sư là một chức danh tư pháp độc lập, chỉ những người có đủ điều kiện hành nghề chuyên nghiệp theo quy định của pháp luật nhằm thực hiện việc tư vấn pháp luật, đại diện theo ủy quyền, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho cá nhân, tổ chức và Nhà nước trước Tòa án và thực hiện các dịch vụ pháp lý khác. Tại Điều 2 Luật Luật sư năm 2006 quy định "Luật sư là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định của Luật Luật sư, thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức" [36].
Tiêu chuẩn luật sư được quy định tại Điều 10 Luật Luật sư như sau "Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt, có bằng cử nhân Luật, đã được đào tạo nghề luật sư, đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư, có sức khỏe bảo đảm hành nghề luật sư thì có thể trở thành Luật sư" [36]. Ngoài ra, người có đủ tiêu chuẩn theo quy định tại Điều 10 của Luật Luật sư muốn hành nghề luật sư phải có Chứng chỉ hành nghề luật và gia nhập một Đoàn luật sư. Nghề luật sư không giống như những nghề bình thường khác vì ngoài những yêu cầu về kiến thức và trình độ chuyên môn thì việc hành nghề luật sư còn phải tuân theo quy chế đạo đức nghề nghiệp. Điều này tạo nên nét đặc thù riêng của nghề luật sư và nét đặc thù này tác động sâu sắc đến kỹ năng hành nghề.
Như vậy, một trong những tiêu chuẩn quan trọng không thể thiếu của Luật sư là phải được cấp thẻ hành nghề luật sư sau khi đã tốt nghiệp cử nhân Luật. Chức năng của Luật sư là cung cấp dịch vụ pháp lý cho cá nhân, tổ chức bao gồm việc tham gia tố tụng để bào chữa hoặc biện hộ cho bị can, bị cáo, đương sự; tư vấn pháp luật cho cá nhân, tổ chức và các dịch vụ pháp lý khác. Sứ mệnh xã hội của Luật sư là góp phần bảo vệ công lý, công bằng xã hội và pháp chế xã hội chủ nghĩa. Ngoài việc phải tôn trọng, tuân thủ pháp luật, Luật sư còn phải tuân theo quy tắc hành nghề, trong đó có các quy tắc đạo đức nghề nghiệp do tổ chức hiệp hội Luật sư ban hành.
Nguồn thu nhập của Luật sư là thù lao do khách hàng trả khi sử dụng dịch vụ. Nghề luật sư rất chú ý đến vai trò cá nhân, uy tín nghề nghiệp của Luật sư. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Hà Hùng Cường trong cuốn “Pháp lệnh luật sư năm 2001 với việc đáp ứng yêu cầu hội nhập khu vực và thế giới” quan niệm “ nghề luật sư đòi hỏi tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp cao, tương tự như nghề y.
Luật sư mang trên vai gánh nặng niềm tin mà xã hội và khách hàng ủy thác cho họ. Nếu như người bệnh tin tưởng phó thác sức khỏe, đời sống của mình vào bác sĩ vì người bệnh hy vọng rằng chính bác sĩ mới là người có đủ khả năng cứu giúp họ, thì cũng tương tự như vậy, khách hàng đặt quyền lợi vật chất hoặc cao hơn nữa là sinh mạng, chính trị, tự do, nhân phẩm. của mình vào Luật sư. 19] Về khái niệm Luật sư theo quy định của Luật Luật sư năm 2006, hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau và chia thành ba luồng quan điểm như sau: Quan điểm thứ nhất cho rằng, theo quy định của Điều 2 Luật Luật sư thì có thể hiểu luật sư là người có Chứng chỉ hành nghề luật sư và Thẻ luật sư, nhưng phải thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của khách hàng.
Quan điểm thứ hai cho rằng, khái niệm luật sư là người có đủ tiêu chuẩn theo quy định của pháp luật và được cơ quan nhà nước cấp Chứng chỉ hành nghề. Khi luật sư đủ tiêu chuẩn theo luật định, được cơ quan nhà nước cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư thì có quyền hành nghề và đăng ký hoạt động mà không nhất thiết phải có một điều kiện nữa là gia nhập một Đoàn luật sư. Theo quan điểm này thì luật sư là người đủ tiêu chuẩn theo quy định của Điều 10 Luật Luật sư và được Bộ Tư pháp cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư. Quan điểm thứ ba cho rằng, Luật sư là người đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề luật sư, cụ thể là được cấp Chứng chỉ hành nghề và Thẻ luật sư, do đó khi một người được cấp Chứng chỉ hành nghề thì chưa phải là luật sư.
Mỗi quan điểm nêu trêu lại đưa ra khái niệm Luật sư dựa trên những cơ sở, điều kiện khác nhau. Tuy nhiên, mỗi quan điểm lại có những hạn chế nhất định. Theo quan điểm thứ nhất, thì có thể dù có Chứng chỉ hành nghề luật sư và Thẻ Luật sư vẫn chưa được gọi là luật sư. Chỉ được gọi là luật sư khi một người có Chứng chỉ hành nghề luật sư, Thẻ luật sư và cung cấp dịch vụ pháp lý cho khách hàng.
Thực tế hiện nay, có một số người có Chứng chỉ hành nghề luật sư và Thẻ luật sư, nhưng họ 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com không hành nghề trong Văn phòng luật sư hoặc Công ty luật hoặc hành nghề với tư cách cá nhân, thì không thể nói rằng, họ không phải là luật sư. Theo quan điểm thứ hai, thì có thể hiểu luật sư là người có đủ tiêu chuẩn luật sư và được Bộ Tư pháp cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư. Kể từ thời điểm có Chứng chỉ hành nghề luật sư, thì người có Chứng chỉ hành nghề luật sư được gọi là luật sư. Tuy nhiên, trong Luật Luật sư không có một quy định nào xác nhận người có Chứng chỉ hành nghề luật sư là luật sư.
Theo quan điểm thứ ba, thì Luật sư là người có đủ điều kiện hành nghề luật sư, có nghĩa là được cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư và Thẻ luật sư thì mới được gọi là Luật sư. Và như vậy giấy tờ xác nhận một người là luật sư là Thẻ luật sư, bởi vì, phải có Chứng chỉ hành nghề luật sư thì mới được gia nhập Đoàn luật sư và mới được cấp Thẻ luật sư. Tuy nhiên, trong Luật Luật sư cũng không có một quy định nào xác định thời điểm một người là luật sư khi có Thẻ luật sư, mà chỉ có quy định thành viên Đoàn luật sư là các luật sư (Điều 60 Luật Luật sư). Tổng hợp những quan điểm trên và dựa vào quy định của Luật luật sư năm 2006, tác giả đưa ra khái niệm tổng quát về Luật sư như sau: Luật sư là người tốt nghiệp đại học chuyên ngành Luật, có chứng chỉ hành nghề Luật sư và được cấp thẻ Luật sư, có đủ sức khỏe, phẩm chất đạo đức tốt và thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức (gọi chung là khách hàng).
Khái quát về trợ giúp pháp lý của Luật sư 1. Khái niệm trợ giúp pháp lý Trợ giúp pháp lý là hoạt động phúc lợi xã hội có lịch sử hơn 500 năm nay và được bắt nguồn tại Anh từ thế kỉ XV- XVI. Cùng với xu hướng phát triển của các quốc gia Châu Âu, tư duy về quyền được trợ giúp pháp lý trở thành trào lưu chung, trợ giúp pháp lý gắn liền với khái niệm “Luật cho người nghèo”. Hiện nay trên thế giới và ở Việt Nam tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau về trợ giúp pháp lý phụ thuộc vào tình hình chính trị, điều kiện kinh tế, xã hội của mỗi nước.