CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG CÁC VỤ TAI NẠN GIAO THÔNG 1.Khái quát chung về trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại ngoài hợp đồng 1.Khái niệm, đặc điểm về trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại ngoài hợp đồng Trách nhiệm dân sự là một nguồn gốc của nghĩa vụ không căn cứ vào ý chí của đƣơng sự, tức là nguồn gốc bất hợp pháp; vì vậy trách nhiệm dân sự làm phát sinh ra nghĩa vụ bồi thƣờng đối với ngƣời đã làm một hành vi trái luật gây tổn thiệt cho một ngƣời khác. 431] Có học giả cho rằng, việc phân biệt giữa trách nhiệm dân sự và trách nhiệm pháp lý cũng không ít quan điểm khác nhau, tuy nhiên nhiều ý kiến đồng nhất về các đặc điểm của trách nhiệm dân sự nhƣ sau: Thứ nhất, trách nhiệm dân sự là quan hệ luật tƣ giữa hai chủ thể độc lập có địa vị pháp lý bình đẳng, và bên vi phạm phải gánh chịu trực tiếp trƣớc bên có quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm chứ không phải chịu trách nhiệm trƣớc Nhà nƣớc hoặc ngƣời khác, trừ trƣờng hợp chế tài vô hiệu hợp đồng do chống lại trật tự công cộng và đạo đức xã hội; Thứ hai, trách nhiệm dân sự chủ yếu là trách nhiệm tài sản; Thứ ba, trách nhiệm dân sự đƣợc áp dụng đối với bên vi phạm phải tƣơng xứng với hậu quả của hành vi vi phạm, tức là tƣơng xứng với mức độ tổn thất về vật chất hoặc tinh thần mà ngƣời thiệt hại phải gánh chịu; Thứ tư, trách nhiệm dân sự phải đƣợc áp dụng thống nhất và nhƣ nhau đối với các chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự .347- 350] 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ngày nay, về học thuật ngƣời ta bàn tới việc hợp nhất lý thuyết về trách nhiệm hợp đồng và trách nhiệm ngoài hợp đồng. Theo pháp luật dân sự Pháp, các trách nhiệm này đều có các thành tố giống nhau, tuy nhiên khác nhau về nguồn gốc phát sinh, nên cũng khác nhau về nghĩa vụ chứng minh. Ở Common Law, ngƣời ta quan niệm luật hợp đồng liên quan tới các thoả thuận bị ràng buộc.
Vấn đề phát sinh từ đâu và ràng buộc là gì. Ràng buộc có nghĩa là nếu một bên trong quan hệ hợp đồng không thực hiện nghĩa vụ hợp đồng, thì toà án, khi bên bị vi phạm yêu cầu, ấn định các điều kiện đối với bên vi phạm. Và các điều kiện này có mục đích định ra một chế tài, nhƣng không phải là một hình phạt đối với bên vi phạm. Trong luật hợp đồng các chế tài đƣợc thiết kế để bồi thƣờng, không phải để phạt.
Trách nhiệm dân sự (civil liability) đƣợc các luật gia thuộc Common Law coi là sự chịu trách nhiệm trƣớc tố quyền dân sự đối lập với tố quyền hình sự; tìm kiếm các chế tài tƣ hoặc thi hành các quyền đối nhân trên cơ sở hợp đồng, vi phạm ngoài hợp đồng (tort). Chính vì vậy, bồi thƣờng thiệt hại ngoài hợp đồng là một dạng trách nhiệm pháp lý hay còn đƣợc coi là một dạng của trách nhiệm dân sự. Nói đến trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại là đề cập đến một loại trách nhiệm pháp lý mang tính cƣỡng chế, buộc chủ thể có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại cho ngƣời khác thì phải bồi thƣờng. Dƣới góc độ khoa học pháp lý chúng ta thấy rằng, mỗi ngƣời sống trong xã hội đều phải tôn trọng quy tắc chung của xã hội, không thể vì lợi ích của mình mà xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của ngƣời khác.
Khi một ngƣời vi phạm nghĩa vụ pháp lý của mình gây tổn hại cho ngƣời khác thì chính ngƣời đó phải chịu bất lợi do hành vi của mình gây ra. Sự gánh chịu một hậu quả bất lợi bằng việc bù đắp tổn thất cho ngƣời khác đƣợc hiểu là bồi thƣờng thiệt hại. [27] 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong khi đó, đối với trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại ngoài hợp đồng, đây là một chế định quan trọng, đƣợc ghi nhận từ sớm trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng. Tuy nhiên, khái niệm bồi thƣờng thiệt hại ngoài hợp đồng thì lại rất hiếm hoi.
Ngay giáo trình Luật dân sự của Trƣờng Đại học Luật Hà Nội cũng không định nghĩa về bồi thƣờng thiệt hại ngoài hợp đồng, BLDS 2015 hiện hành của Việt nam cũng chỉ quy định về căn cứ phát sinh trách nhiệm, nguyên tắc bồi thƣờng, năng lực chịu trách nhiệm, thời hạn hƣởng bồi thƣờng, mà chƣa có một điều luật nào giải nghĩa về vấn đề khái niệm này [25]. Xuất phát từ các quy định của BLDS cũng nhƣ thực tiễn cuộc sống, xin đƣợc đƣa ra khái niệm trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại ngoài hợp đồng nhƣ sau: “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một loại trách nhiệm dân sự bao gồm trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất và trách nhiệm bồi thường thiệt hại về tinh thần được phát sinh khi chủ thể nào đó có trách nhiệm liên quan tới việc để xảy ra sự kiện làm xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc các chủ thể khác mà gây thiệt hại.” Nhƣ vậy, có thể hiểu trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại ngoài hợp đồng là một loại trách nhiệm Dân sự mà theo đó khi một ngƣời vi phạm nghĩa vụ pháp lý của mình liên quan tới việc để xảy ra sự kiện gây tổn hại cho ngƣời khác thì phải bồi thƣờng những tổn thất đƣợc sinh ra từ sự kiện gây tổn hại đó. Là một loại trách nhiệm pháp lý nên ngoài những đặc điểm của trách nhiệm pháp lý nói chung nhƣ do cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền áp dụng, áp dụng đối với ngƣời có hành vi vi phạm pháp luật, luôn mang đến hậu quả bất lợi cho ngƣời bị áp dụng, đƣợc đảm bảo thực hiện bằng cƣỡng chế nhà nƣớc…. thì trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại ngoài hợp đồng còn có những đặc điểm riêng sau đây: 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com (1) Căn cứ phát sinh trách nhiệm đồng thời là căn cứ phát sinh nghĩa vụ.
Khác với việc BTTH trong hợp đồng, các bên có thể thỏa thuận về việc bồi thƣờng hoặc trong trƣờng hợp nếu các bên không có thỏa thuận thì việc bồi thƣờng thiệt hại tuân thủ theo quy định của pháp luật hợp đồng. Trong khi đó, nội dung của trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại ngoài hợp đồng hoàn toàn do luật định: cơ sở phát sinh, chủ thể chịu trách nhiệm, cách thức bồi thƣờng, mức bồi thƣờng … đƣợc pháp luật quy định sẵn mà không phụ thuộc vào thỏa thuận trƣớc của các bên. Có thể so sánh việc BTTH ngòai hợp đồng với việc phạt vi phạm trong hợp đồng. Các bên cũng không giới hạn đƣợc trách nhiệm nhƣ trong quan hệ hợp đồng.
Tuy nhiên, không phải nghĩa vụ bồi thƣờng thiệt hại nào cũng đƣợc phát sinh dựa trên duy nhất căn cứ phát sinh trách nhiệm. Trong một số trƣờng hợp, trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại đã đƣợc thống nhất và thỏa thuận trƣớc về nghĩa vụ bồi thƣờng sẽ thuộc về ai. Trƣờng hợp này đƣợc điều chỉnh bởi quan hệ bảo hiểm trách nhiệm dân sự. Quan hệ bảo hiểm này là sự thỏa thuận thống nhất về việc xác định nghĩa vụ đối với trách nhiệm bồi thƣờng ngoài hợp đồng phát sinh trong tƣơng lại, bao gồm cả trách nhiệm bồi thƣờng do các vụ tai nạn giao thông gây ra giữa ngƣời bảo hiểm (DNBH) và ngƣời gây thiệt hại (Ngƣời đƣợc bảo hiểm) cho ngƣời thứ ba đang chịu thiệt hại.
Khi phát sinh sự cố đƣợc bảo hiểm, hoặc xảy ra tai nạn giao thông, ngƣời đƣợc bảo hiểm có trách nhiệm bồi thƣờng cho bên thứ ba (Ngƣời chịu thiệt hại) theo quy định về trách nhiệm dân sự còn DNBH có trách nhiệm bồi thƣờng cho ngƣời đƣợc bảo hiểm theo thoả thuận của HĐBH. Cũng có trƣờng hợp theo pháp luật hoặc thoả thuận của HĐBH, DNBH bồi thƣờng trực tiếp cho bên thứ ba. (2) Khi thiệt hại xảy ra, chủ thể có nghĩa vụ phải bồi thường thiệt hại cả thiệt hại vật chất lẫn thiệt hại do tổn thất về tinh thần, cả thiệt hại trực tiếp lẫn thiệt hại gián tiếp: BLDS 2015 [Mục 2 Chƣơng XX] và văn bản hƣớng dẫn có quy 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com định rõ về việc chủ thể có nghĩa vụ phải bồi thƣờng: (i) các thiệt hại vật chất, đây là các thiệt hại chủ yếu và ban đầu; (ii) thiệt hại do tổn thất về tinh thần: trong nhiều trƣờng hợp đây là loại thiệt hại thứ phát và không tồn tại trong mọi trƣờng hợp (thiệt hại về tài sản không làm phát sinh thiệt hại do tổn thất về tinh thần). Mặt khác, thiệt hại đƣợc bồi thƣờng không chỉ là các thiệt hại hiện hữu vào thời điểm xảy ra hành vi gây thiệt hại mà còn có các thiệt hại trong tuơng lai có quan hệ nhân quả với hành vi gây thiệt hại.
Hơn nữa, ngƣời có nghĩa vụ bồi thƣờng không chỉ phải bồi thƣờng các thiệt hại xảy ra trực tiếp cho ngƣời bị thiệt hại mà cho cả các chủ thể có liên quan (chẳng hạn bồi thƣờng thu nhập giảm sút cho ngƣời chăm sóc ngƣời phải nằm bệnh viện, hoặc việc bồi thƣờng thiệt hại về tinh thần cho ngƣời thân của ngƣời bị thiệt hại về tính mạng).Ý nghĩa của trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại ngoài hợp đồng Trong các luật cổ của Việt Nam và trên thế giới đều đề cập đến bồi thƣờng thiệt hại nói chung và bồi thƣờng thiệt hại ngoài hợp đồng nói riêng với ý nghĩa đền bù. Điều đó có thể thấy rõ qua “chế độ phục cừu”, “chế độ phục kim” của Luật La Mã cổ đại. Chế độ phục cừu đề cập đến nguyên tắc trả thù, đền bù ngang giá: máu trả máu, mắt trả mắt, răng trả răng, tính mạng trả tính mạng… Ngoài chế độ phục cừu, việc bồi thƣờng thiệt hại ngoài hợp đồng còn tuân theo những nguyên tắc pháp luật ấn định trƣớc nhƣ “chế độ phục kim” (bồi thƣờng bằng tiền).[36, tr 11] Theo quy định chung của pháp luật thì công dân và pháp nhân có quyền đƣợc bảo vệ tài sản, các lợi ích hợp pháp… Trong Hiến Pháp 2013 (Đạo luật cơ bản của Nhà nƣớc) đối với tài sản của công dân đã đƣợc ghi nhận cụ thể: " Quyền sở hữu tƣ nhân và quyền thừa kế đƣợc pháp luật bảo hộ”. Nhƣ vậy, khi tài sản của pháp nhân, của Nhà nƣớc, hoặc tài sản, tính mệnh, sức khoẻ, danh 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.