Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỦ TỤC TỐ TỤNG HÌNH SỰ ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN 1. KHÁI NIỆM VÀ MỤC ĐÍCH CỦA THỦ TỤC TỐ TỤNG HÌNH SỰ ĐỐI VỚI NGƢỜI CHƢA THÀNH NIÊN 1. Khái niệm thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên Ngƣời chƣa thành niên với đặc thù là những ngƣời chƣa phát triển đầy đủ về thể chất và tinh thần, vì vậy khả năng nhận thức về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội bị hạn chế, nhiều trƣờng hợp do bị kích động, xúi giục, lôi kéo dẫn đến hành vi phạm tội. Mỗi quốc gia khác nhau, tùy vào điều kiện kinh tế - văn hóa - xã hội, phong tục, tập quán, pháp luật của từng quốc gia mà có quy định cụ thể về ngƣời chƣa thành niên cũng nhƣ trách nhiệm hình sự đối với ngƣời chƣa thành niên phạm tội.
Điều 1 Công ƣớc quốc tế về quyền trẻ em đƣợc Đại hội đồng Liên hiệp quốc thông qua ngày 20/11/1989 ghi nhận: "Trong phạm vi Công ước này, trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật áp dụng đối với trẻ em có quy định tuổi thành niên sớm hơn" [29, tr. Pháp luật của một số quốc gia lại quy định độ tuổi áp dụng trách nhiệm hình sự đối với ngƣời chƣa thành niên là 14 tuổi nhƣ Trung Quốc, Nhật Bản, Đức, Nga… nhƣng ở Singapore, Thái Lan… lại quy định tuổi chịu trách nhiệm hình sự là 7 tuổi, trong khi đó ở Peru, Colombia… tuổi chịu trách nhiệm hình sự là 18 tuổi trùng với tuổi xác định là thành niên [75]. Ở Việt Nam, thuật ngữ ngƣời chƣa thành niên phạm tội đƣợc dùng trong khoa học pháp lý hình sự. Theo đó, BLHS quy định ngƣời chƣa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dƣới 18 tuổi phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự.
7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Điều 68 BLHS 1999 quy định: “Người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Chương này, đồng thời theo những quy định khác của Phần chung Bộ luật không trái với những quy định của Chương này”. Tuy nhiên, không phải tất cả ngƣời chƣa thành niên từ đủ 14 tuổi đến chƣa đủ 18 tuổi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đều bị coi là tội phạm mà BLHS quy định rõ chỉ những ngƣời chƣa thành niên từ đủ 14 tuổi nhƣng chƣa đủ 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng thì mới phải chịu trách nhiệm hình sự (Điều 12 BLHS 1999). Vậy, ngƣời chƣa thành niên phạm tội và phải chịu trách nhiệm hình sự là: Ngƣời từ đủ 14 tuổi đến dƣới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý, phạm tội đặc biệt nghiêm trọng hoặc nguời từ đủ 16 tuổi đến dƣới 18 tuổi phạm một tội đƣợc quy định trong BLHS. BLTTHS 1999 cũng dành một chƣơng riêng (Chƣơng XXXII) quy định về thủ tục giải quyết vụ án mà bị can, bị cáo là ngƣời chƣa thành niên.
Tuy nhiên cả BLHS và BLTTHS đều không đƣa ra một khái niệm cụ thể thế nào là ngƣời chƣa thành niên phạm tội. Hơn nữa, không thể đồng nhất khái niệm tội phạm do ngƣời chƣa thành niên gây ra và khái niệm ngƣời chƣa thành niên phạm tội, bởi lẽ khái niệm ngƣời chƣa thành niên phạm tội là khái niệm dùng để chỉ một dạng chủ thể đặc biệt là ngƣời chƣa thành niên thực hiện hành vi phạm tội, còn khái niệm tội phạm do ngƣời chƣa thành niên gây ra là khái niệm dùng để chỉ tội phạm đã đƣợc thực hiện bởi một dạng chủ thể đặc biệt là ngƣời chƣa thành niên [33, Tr 8 - 9]. Có thể hiểu ngƣời chƣa thành niên phạm tội nhƣ sau: Người chưa thành niên phạm tội là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi, có năng lực trách nhiệm hình sự, có lỗi trong việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị luật hình sự cấm và phải chịu các chế tài do pháp luật quy định. Ngƣời chƣa thành niên phạm tội là ở lứa tuổi mà khả năng nhận thức về 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội bị hạn chế và nhiều khi còn bị tác động mạnh của những điều kiện bên ngoài.
Quá trình điều tra, truy tố, xét xử phải đƣợc tiến hành hết sức thận trọng, cụ thể và chính xác trên cơ sở xem xét đầy đủ các yếu tố của bản thân và những điều kiện bên ngoài tác động đến ngƣời đó. Chính vì vậy, thủ tục tố tụng đối với ngƣời chƣa thành niên cũng cần chú ý những đặc điểm của ngƣời chƣa thành niên để giúp họ bảo vệ đƣợc quyền và lợi ích hợp pháp của mình, cũng nhƣ tạo điều kiện để họ thực hiện nghĩa vụ khi tham gia tố tụng [7, Tr 526]. Có thể định nghĩa về thủ tục tố tụng đối với ngƣời chƣa thành niên là: Những quy định cụ thể cần áp dụng để giải quyết vụ án hình sự có người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi nhằm giải quyết đúng đắn, khách quan và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của họ trong hoạt động TTHS. Mục đích của thủ tục tố tụng hình sự đối với người chưa thành niên Xuất phát từ đặc điểm của ngƣời chƣa thành niên là những ngƣời chƣa phát triển đầy đủ về thể chất, về trí tuệ và tâm sinh lý, chƣa có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ pháp lý nhƣ ngƣời thành niên nên pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam có những quy định đặc thù áp dụng đối với ngƣời chƣa thành niên tại Chƣơng XXXII, từ Điều 301 đến Điều 310 nhằm đảm bảo quyền lợi của họ trong quá trình giải quyết vụ án hình sự.
Việc quy định một chƣơng riêng về thủ tục tố tụng đối với ngƣời chƣa thành niên là hết sức cần thiết bởi lẽ: - Thứ nhất, BLTTHS quy định riêng về thủ tục tố tụng đối với ngƣời chƣa thành niên nhằm thể chế hóa chính sách hình sự của Đảng và Nhà nƣớc ta đối với ngƣời chƣa thành niên phạm tội. Việc xử lý ngƣời chƣa thành niên phạm tội chủ yếu nhằm mục đích cải tạo, giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm để sớm trở thành công dân có ích cho xã hội, đồng thời tạo điều kiện cho họ thực hiện nghĩa vụ của mình khi tham gia tố tụng hình sự. Ngoài ra, còn 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đảm bảo cho quá trình điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đối với ngƣời chƣa thành niên phải đƣợc tiến hành một cách khách quan, phù hợp, toàn diện và đúng pháp luật [35, Tr 26]. - Thứ hai, việc quy định thủ tục tố tụng riêng với ngƣời chƣa thành niên còn để đảm bảo quyền của ngƣời chƣa thành niên trong quá trình giải quyết vụ án hình sự cũng nhƣ ngăn ngừa sự lạm quyền, vi phạm quyền của ngƣời chƣa thành niên từ phía cơ quan tiến hành tố tụng.
- Thứ ba, pháp luật TTHS ghi nhận các quyền của ngƣời chƣa thành niên, tạo cơ sở pháp lý cho ngƣời chƣa thành niên thực hiện quyền – nghĩa vụ pháp lý của mình và trách nhiệm của Nhà nƣớc và các chủ thể khác trong việc đảm bảo cho họ đƣợc hƣởng những quyền đó. CƠ SỞ QUY ĐỊNH THỦ TỤC TỐ TỤNG HÌNH SỰ ĐỐI VỚI NGƢỜI CHƢA THÀNH NIÊN VÀ NGUYÊN TẮC XỬ LÝ ĐỐI VỚI NGƢỜI CHƢA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI 1. Cơ sở quy định thủ tục tố tụng hình sự đối với người chưa thành niên Thứ nhất: Về yếu tố tâm sinh lý của ngƣời chƣa thành niên Do đặc trƣng về lứa tuổi cũng nhƣ sự phát triển chƣa đầy đủ về thể chất, tinh thần, kinh nghiệm sống, trình độ nhận thức nên ngƣời chƣa thành niên có những đặc điểm tâm sinh lý khác so với ngƣời thành niên. Có vụ án xảy ra xuất phát từ những mâu thuẫn đơn giản, nhiều khi chỉ là sự khích bác của những đứa trẻ với nhau hoặc đơn giản chỉ là “nhìn nó ngứa mắt”.
Tâm lý chung của ngƣời chƣa thành niên là dễ bị kích động, tính kiên trì và năng lực tự kiềm chế thấp [33, Tr 20]. Khi phạm tội và bị bắt thƣờng sẽ có tâm lý chán nản, tuyệt vọng, sợ hãi. Vì vậy, khi bị hỏi cung bị can do tâm lý sợ hãi, căng thẳng, xấu hổ nên thƣờng im lặng không chịu khai báo hoặc khai báo lộn xộn, không trung thực. Ngoài ra, thái độ khai báo của các em còn 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phụ thuộc vào thói quen và cách sống của các em cũng nhƣ tình cảm gia đình, bạn bè.
Khi các em nhận thấy lời khai của mình có thể tác động đến danh dự, uy tín của bản thân và gia đình hoặc xấu hổ trƣớc mọi ngƣời thì sẽ không dám nói. Hơn nữa, khi gặp Điều tra viên, nếu Điều tra viên tạo cho các em cảm giác sợ hãi sẽ ảnh hƣởng rất lớn tới lời khai của các em nên tính trung thực cũng nhƣ tính chính xác trong lời khai không cao. Bên cạnh đó ngƣời chƣa thành niên dễ bị chịu ảnh hƣởng môi trƣờng xung quanh, có tính hay bắt chƣớc nhƣng chƣa có khả năng tự kiềm chế và đánh giá vấn đề xảy ra với mình một cách toàn diện nên khi đã phạm tội cần phải xem xét việc giam giữ riêng ngƣời chƣa thành niên và ngƣời thành niên [33, Tr 21-22]. Từ sự phân tích trên có thể coi yếu tố tâm, sinh lý là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hƣởng hành vi phạm tội của ngƣời chƣa thành niên.
Do vậy, trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự đối với ngƣời chƣa thành niên cần có những quy định phù hợp dựa trên các yếu tố tâm, sinh lý này. Thứ hai, về yếu tố xã hội và pháp luật Nƣớc ta hiện nay rất coi trọng việc bảo vệ giáo dục ngƣời chƣa thành niên. Điều này đƣợc thể hiện qua hệ thống pháp luật về bảo vệ trẻ em bao gồm: Hiến pháp, Luật Hôn nhân và gia đình, Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân; Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em; Luật Lao động; Bộ luật Dân sự; BLHS; BLTTHS. mục tiêu của các quy định pháp luật này đều hƣớng tới việc giúp đỡ, chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em.
Hiến pháp năm 2013 quy định: “Trẻ em được Nhà nước , gia đình và xã hội bảo vệ , chăm sóc và giáo dục; được tham gia vào các vấ n đề về trẻ em .