Tổng quan nghiên cứu

Trong hệ thống tư pháp Việt Nam, hằng năm các Tòa án nhân dân thụ lý và giải quyết trên 400.000 vụ việc dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại và lao động. Tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là chế định pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm quyền tiếp cận công lý khi xuất hiện các sự kiện khách quan làm gián đoạn quá trình tố tụng. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đang bộc lộ nhiều bất cập lớn, đặc biệt là tình trạng lạm dụng căn cứ tạm đình chỉ để kéo dài thời gian giải quyết vụ án quá thời hạn chuẩn bị xét xử từ 1 đến 6 tháng theo luật định.

Luận văn thạc sĩ luật học chuyên ngành Luật Dân sự và Tố tụng Dân sự của tác giả Trần Văn Huy, dưới sự hướng dẫn khoa học của Tiến sĩ Phan Quốc Nguyên tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, tập trung giải quyết toàn diện vấn đề lý luận và thực tiễn của chế định này. Phạm vi nghiên cứu bao quát tiến trình lập pháp từ năm 1945 đến nay, trọng tâm là giai đoạn thi hành Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 từ năm 2016 đến năm 2020. Mục tiêu chính của đề tài là phân tích 8 nhóm căn cứ tạm đình chỉ, làm rõ 5 nguyên nhân cốt lõi gây ách tắc trong thực tiễn xét xử, từ đó xác lập hệ thống giải pháp nâng cao tính chính xác trong giải quyết tranh chấp và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của đương sự trong chiến lược cải cách tư pháp giai đoạn 2021-2030.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng của 2 lý thuyết pháp lý cốt lõi: Lý thuyết về quyền tiếp cận công lý (Access to Justice) và Lý thuyết về tố tụng công bằng, nhanh chóng (Right to a Fair and Speedy Trial). Mô hình nghiên cứu phân tích mối quan hệ biện chứng giữa tính chính xác, khách quan của bản án và tính kịp thời về mặt thời hạn tố tụng. Hệ thống khái niệm then chốt bao gồm: Tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự (hành vi tố tụng tạm ngừng tiến trình giải quyết có thời hạn khi có căn cứ luật định mà không làm triệt tiêu vụ án), Đương sự và quyền kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng theo Điều 74 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Ủy thác tư pháp thu thập chứng cứ theo Điều 105, và Thời hạn chuẩn bị xét xử theo Điều 203.

Phương pháp nghiên cứu

Công trình sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp gồm hơn 15 văn bản quy phạm pháp luật qua các thời kỳ lịch sử (tiêu biểu như Sắc lệnh số 13/SL năm 1946, Pháp lệnh năm 1989, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 sửa đổi năm 2011 và Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) kết hợp dữ liệu sơ cấp từ hơn 50 hồ sơ vụ án thực tế.

Cỡ mẫu nghiên cứu chuyên sâu gồm 12 vụ án dân sự điển hình tại Tòa án cấp huyện và cấp tỉnh trong giai đoạn 2016-2020. Phương pháp chọn mẫu có chủ đích (purposive sampling) được áp dụng để tập trung vào các vụ việc phát sinh tranh chấp phức tạp về ủy thác tư pháp và chuyển giao quyền tố tụng. Tác giả kết hợp đồng bộ các phương pháp phân tích quy phạm, so sánh luật học, tổng hợp, quy nạp - diễn dịch và thống kê xã hội học. Việc lựa chọn phương pháp phân tích so sánh định tính kết hợp tổng hợp định lượng giúp đánh giá chính xác tác động của các quy định pháp luật hiện hành đối với tiến độ xét xử thực tế.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, căn cứ tại điểm đ khoản 1 Điều 214 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (chờ kết quả ủy thác tư pháp, thu thập chứng cứ) bị lạm dụng nhiều nhất, chiếm khoảng 60% tổng số quyết định tạm đình chỉ tại các Tòa án. Việc bãi bỏ điều kiện "phải hết thời hạn chuẩn bị xét xử" so với Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 đã khiến nhiều Thẩm phán vội vàng ra quyết định tạm đình chỉ khi chưa thực sự cần thiết.

Thứ hai, phát hiện sự thiếu đồng bộ giữa Bộ luật Dân sự năm 2015 và Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Điều 23 Bộ luật Dân sự năm 2015 bổ sung đối tượng "người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi", nhưng Điều 214 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 chưa cập nhật đối tượng này vào căn cứ tạm đình chỉ, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của khoảng 15% đương sự thuộc nhóm yếu thế trong các vụ án dân sự.

Thứ ba, thống kê thực tiễn cho thấy khoảng 30% quyết định tạm đình chỉ được ban hành tập trung vào tháng 10 và tháng 11 hằng năm. Đây là giai đoạn các Tòa án tổng kết thi đua, Thẩm phán sử dụng quyết định tạm đình chỉ như giải pháp tình thế để được tính lại từ đầu thời hạn chuẩn bị xét xử theo điểm b khoản 1 Điều 203, nhằm tránh tình trạng án bị xếp vào diện quá hạn từ 3 đến 6 tháng.

Thứ tư, điểm a khoản 1 Điều 214 còn bỏ sót trường hợp cơ quan, tổ chức đang tham gia tố tụng bị cơ quan nhà nước thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc tổ chức không có tư cách pháp nhân có người đại diện chết, gây lúng túng trong xác định người kế thừa theo Điều 74.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân của những tồn tại trên xuất phát từ cả yếu tố khách quan và chủ quan. Về khách quan, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao chưa ban hành Nghị quyết hướng dẫn chi tiết Điều 214. Về chủ quan, áp lực chỉ tiêu xét xử khiến thẩm phán dễ nảy sinh tâm lý lạm dụng thủ tục. Dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa qua biểu đồ hình tròn thể hiện cơ cấu lý do tạm đình chỉ (trong đó lý do ủy thác chứng cứ chiếm áp đảo) và bảng đối chiếu các trường hợp kế thừa tố tụng để thấy rõ khoảng trống pháp lý.

Hậu quả pháp lý là quyền lợi của đương sự bị kéo dài vô thời hạn, vi phạm nguyên tắc xét xử kịp thời. Điển hình như vụ án ly hôn thụ lý ngày 27/9/2018 tại Tòa án nhân dân huyện Yên Định, Tòa án đã ra quyết định tạm đình chỉ vào ngày 15/10/2018 để ủy thác tư pháp ra nước ngoài trong khi đương sự đã về nước trước đó 18 ngày, thể hiện sự cứng nhắc và thiếu kiểm tra thực tế.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, kiến nghị Quốc hội xem xét sửa đổi, bổ sung điểm a và điểm b khoản 1 Điều 214 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 trong giai đoạn 2021-2025, bổ sung đối tượng "người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi" và quy định bao quát trường hợp tổ chức bị thu hồi đăng ký kinh doanh.

Thứ hai, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cần ban hành Nghị quyết hướng dẫn áp dụng Điều 214 trước năm 2023, quy định thời hạn tạm đình chỉ để chờ kết quả cung cấp chứng cứ tối đa không quá 3 tháng, đồng thời không tính lại thời hạn chuẩn bị xét xử từ đầu nhằm giảm 25% tỷ lệ án kéo dài.

Thứ ba, Viện kiểm sát nhân dân tối cao chỉ đạo Viện kiểm sát các cấp thực hiện kiểm sát 100% quyết định tạm đình chỉ, kiên quyết thực hiện quyền kiến nghị hoặc kháng nghị phúc thẩm trong thời hạn 7 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định trái luật.

Thứ tư, Tòa án nhân dân tối cao cần điều chỉnh quy chế thi đua của Thẩm phán giai đoạn 2022-2026, loại bỏ việc trừ điểm thi đua đối với các vụ án bị kéo dài do nguyên nhân khách quan để chấm dứt tình trạng ban hành quyết định tạm đình chỉ đối phó vào quý 4 hằng năm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Thẩm phán và Thư ký Tòa án: Nắm vững quy trình ban hành quyết định tạm đình chỉ chuẩn xác tại 3 thời điểm tố tụng, tránh sai sót dẫn đến việc bị cấp phúc thẩm hủy quyết định khi thụ lý hơn 100 dạng tranh chấp dân sự.
  2. Kiểm sát viên và Kiểm tra viên Viện kiểm sát: Sử dụng làm tài liệu nghiệp vụ phục vụ công tác kiểm sát tư pháp, nâng cao kỹ năng phát hiện vi phạm để kháng nghị kịp thời theo Điều 216.
  3. Luật sư và Chuyên viên pháp lý: Định hình chiến lược bảo vệ quyền lợi thân chủ, phát hiện hành vi lạm dụng thủ tục tạm đình chỉ của Tòa án để khiếu nại, giúp rút ngắn thời gian giải quyết vụ việc từ 1 đến 2 tháng.
  4. Giảng viên, Học viên và Sinh viên ngành Luật: Cung cấp nguồn tư liệu học thuật giá trị về 6 giai đoạn phát triển lập pháp tố tụng dân sự từ năm 1945 và hệ thống lý luận sâu sắc về 3 nhóm căn cứ tạm đình chỉ.

Câu hỏi thường gặp

Tạm đình chỉ khác đình chỉ giải quyết vụ án dân sự như thế nào? Tạm đình chỉ theo Điều 214 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 chỉ tạm ngừng giải quyết vụ án trong một khoảng thời gian nhất định; khi lý do tạm ngừng chấm dứt, Tòa án tiếp tục thụ lý giải quyết. Ngược lại, đình chỉ theo Điều 217 chấm dứt hoàn toàn quá trình giải quyết vụ án và xóa tên vụ án trong sổ thụ lý của Tòa án.

Quyết định tạm đình chỉ có làm thời hạn chuẩn bị xét xử bị tính lại từ đầu không? Theo điểm b khoản 1 Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, khi Tòa án ban hành quyết định tiếp tục giải quyết vụ án, thời hạn chuẩn bị xét xử từ 1 đến 4 tháng sẽ được tính lại từ đầu kể từ ngày quyết định tiếp tục có hiệu lực pháp luật.

Đương sự có quyền kháng cáo quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án không? Theo quy định tại Điều 216 và Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đương sự có quyền làm đơn kháng cáo, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định tạm đình chỉ sơ thẩm trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày nhận được quyết định để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử phúc thẩm.

Tòa án có được tạm đình chỉ khi chưa hết thời hạn chuẩn bị xét xử để đợi chứng cứ không? Theo điểm đ khoản 1 Điều 214 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Thẩm phán có quyền ra quyết định tạm đình chỉ ngay khi có yêu cầu ủy thác hoặc thu thập chứng cứ mà không cần đợi hết thời hạn chuẩn bị xét xử từ 2 đến 6 tháng như quy định của Bộ luật năm 2004 trước đây.

Vì sao cần bổ sung người có khó khăn trong nhận thức vào căn cứ tạm đình chỉ? Điều 23 Bộ luật Dân sự năm 2015 đã phân định rõ nhóm người có khó khăn trong nhận thức với người mất năng lực hành vi dân sự. Việc bổ sung nhóm này vào Điều 214 là bắt buộc nhằm bảo đảm 100% quyền được có người giám hộ đại diện tham gia tố tụng công bằng cho mọi công dân.

Kết luận

  • Luận văn đã chuẩn hóa toàn diện hệ thống lý luận về chế định tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong tiến trình lập pháp từ năm 1945 đến nay.
  • Làm rõ bản chất pháp lý của 8 căn cứ tạm đình chỉ theo Điều 214 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và chỉ rõ 4 lỗ hổng lập pháp cơ bản.
  • Phân tích thực trạng Thẩm phán lạm dụng thủ tục tính lại thời hạn chuẩn bị xét xử 3 đến 6 tháng để đối phó với chỉ tiêu thi đua ngành.
  • Đóng góp 4 nhóm kiến nghị sửa đổi pháp luật gửi đến cơ quan lập pháp và Tòa án nhân dân tối cao định hướng giai đoạn 2021-2025.
  • Mở ra hướng nghiên cứu tiếp theo về cơ chế giám sát thời hạn tố tụng điện tử trong hệ thống Tòa án số đến năm 2030; hãy tải và tham khảo công trình nghiên cứu để áp dụng hiệu quả vào thực tiễn tranh tụng.