CHƯƠNG 1: NHỮNG VAN DE CHUNG VE ÁP DỤNG BIEN PHAP KHAN CAP TẠM THỜI TRONG GIẢI QUYET CÁC VỤ ÁN DAN SỰ TẠI TOA AN 1. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của áp dụng biện pháp khan cấp tạm thời trong giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án 1. Khái niệm áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết vụ an dan sự tại Toa an Trong thời han chuân bị xét xử vu án, khi nhận thay can phải giải quyết các yêu cầu cấp bách của đương sự nhằm giải quyết ngay yêu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ bằng chứng, bảo toản tình trạng hiện có tránh gây thiệt hại không thé khắc phục được hoặc đảm bảo cho việc thi hành án hoặc theo yêu cầu của đương sự, cơ quan, t6 chức, cá nhân thì Toa án sẽ áp dụng một hoặc một số biện pháp nhằm kịp thời giải quyết những vấn để này. Các biện pháp được Toả án áp dụng trong trường hợp này được gọi là “Biện pháp khẩn cấp tạm thời”.
Mặc dù đã được ghi nhận tại Pháp lệnh giải quyết các vụ án đân sự số 27-LCT/HDNNSB ngày 07/12/1989 của Hội đồng Nhà nước nhưng trong suốt thời gian dải cho đến khi BLTTDS năm 2015 được ban hành và Hội đồng Thâm phán TAND Tối cao đã ban hành Nghị quyết số 02/2020/NQ-HDTP ngày 24/9/2020 để các Toà án áp dụng đúng và thống nhất một số quy định về các BPKC TT của BLTTDS năm 2015, nhưng khái nệm BPKCTT theo quy định pháp luật tố tụng dân sự vẫn chưa được định nghĩa một cách chính thức trong các văn bản pháp luật cũng như Nghị quyết của Hội đồng Tham phan TAND Tối cao. 13 Theo Từ điển Luật hoc’, “Biện pháp khẩn cấp tạm thời” là “Biện pháp Toà án quyết định áp dung trong quá trình giải quyết vụ an nhằm giải quyết nhu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ bằng chứng hoặc bao đảm việc thi hành án ”. Trong khi đó, Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội đã đưa ra cách hiểu khái niệm cụ thể hơn như sau: “Điện pháp khẩn cấp tạm thời phải được hiểu là những biện pháp cụ thé mà Tòa án cần áp dung dé tam thời giải quyết yêu cầu cấp bách của đương sự hoặc dé bảo vệ bằng chứng bảo toàn tình trạng hiện có tránh gây thiệt hại không thê khắc phục được hoặc bao dam cho việc thi hành an aa Có thé thay, Từ điển Luật học và Trường Dai học Luật Ha Nội đã chỉ ra những mục đích, chức năng quan trọng nhất của BPKCTT và đã ác định rõ chủ thể có quyền áp dụng BPKCTT, tuy nhiên các định nghĩa này vẫn chưa thể hiện được vai trò, ý nghĩa của BPKCTT trong hoạt động áp dụng pháp luật tố tụng của Tòa án và đương sự. Theo phó Giáo sư, Tiến sĩ Phạm Duy Nghĩa”: “Biện pháp khẩn cấp tam thời là một công đoạn tô tụng nhằm giúp cơ quan tài phán can thiệp nhanh chóng, kịp thời nhằm bảo vệ chưng cứ, tài sản hoặc các bảo dam thiết yếu khác cho thi hành các nghĩa vụ trong khi phiên tranh tụng chính chưa kết thúc.
Là một công đoạn tổ tụng trong quy trình giải quyết vụ việc nói chung nhưng thực chất biện pháp khẩn cấp tạm thời là một quy trình tự quy định về quyên yêu cầu, thẩm quyên xem xét và ban hành các quyết định to tụng, các dam bảo, quyên khiếu nại và yéu cầu đền bù thiệt hại néu có. Quy trình này là 1 Từ điển Luật học, Bộ Tư pháp - Viện Khoa học pháp ly, NXB Từ điển Bách Khoa - NXB Tư pháp, Trang 67. 2 Truong Dai học Luật Ha Nội (2018). Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam, Tái bản lần thứ 16 có sửa đổi, Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội; PGS.TS Phạm Duy Nghĩa, “Biện pháp khan cấp tạm thời trong té tụng trọng tài”, 2010, Tạp chí Lập pháp 14 một phần phụ, phát sinh, có tính chất chuẩn bị, bồ trợ cho thủ tục tổ tụng chính dang được cơ quan tài phan thu ly”.
Theo cách dinh nghĩa này, PGS.TS Phạm Duy Nghia đã có cách nhìn tổng thé và bao quát về vai trò, vị trí, mục đích, ý nghĩa của BPKCTT trong quy trình tô tụng chung, bao gồm tố tụng Tòa án và tố tụng trọng tải. Trong phạm vi hẹp là pháp luật tố tụng dân sự, PGS.TS Hà Thị Mai Hiền - TS. Trần Văn Biên đã đưa ra định nghĩa như sau: “Biện pháp khẩn cấp tạm thời là biện pháp do Toà án quyết định áp dụng trong quá trình giải quyết vụ việc dan sự nhằm giải quyết nhu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ bằng chứng, bảo toàn tình trạng hiện có tránh gây thiệt hại không thê khắc phục được hoặc bảo đảm việc thi hành án ””. Từ những phân tích trên, có thé đưa ra khái niệm định nghĩa nay, Tác giả dé xuất khái niệm “Biện pháp khẩn cấp tam thời trong giải quyết vụ an dân sự” là “Biện pháp được Toà án áp dụng trong quá trình giải quyết vụ án theo quy định của bộ luật tổ tụng dân sự, nhằm giải quyết ngay yêu cầu cấp bách của đương sự, bao vệ tinh mạng, sức khỏe, tài san, thu thập chứng cứ, bảo vệ chứng cứ, bảo toàn tình trang hiện có tránh gáy thiệt hại không thê khắc phục được, đảm bảo cho việc giải quyết vu án hoặc việc thi hành án ``.
Trong qua trình thực hiện pháp luật Tố tụng dân sự, việc Tòa án quyết định tự áp dụng hoặc áp dung BPKCTT theo các đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án dân sự chính là một trong những hình thức áp dụng pháp luật tố tụng dân sự đặc trưng, thê hiện day đủ những yếu tố cơ ban của việc áp dụng pháp luật trong hoạt động giải quyết vụ án của Tòa án. Tuy nhiên, tương tự như khái niệm của BPKCTT, * PGS.TS Hà Thị Mai Hiền - TS. Trần Văn Biên (Đồng chủ biên), “Bình luận Khoa học Bộ luật Té tụng dân sự 2004, sửa đổi, bổ sung 2011”, Viện Nhà nước và pháp luật, Trang 198. 15 hiện nay vẫn chưa có bất kỳ văn bản pháp luật nào định nghĩa một cách chính thức khái niệm “Ap dung biện pháp khẩn cấp tạm thời” nói chung và “Ap dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thời trong giải quyết vụ án dân sự tại Tòa an” nói riêng.
Theo Truong Đại học Luật Hà Nội, áp dụng pháp luật là “hình thức thực hiện pháp luật, trong đó nhà nước thông qua các cơ quan nhà nước hoặc nhà chức trách có thấm quyén tô chức cho các chủ thé pháp luật thực hiện những quy định của pháp luật, hoặc tự mình căn cứ vào các quy định của pháp luật dé tạo ra các quyết định làm phát sinh, thay đổi, đình chỉ hoặc chẩm đứt Ao05 những quan hệ pháp luật cu thé”. Trên cơ sở định nghĩa khái niệm của BPKCTT, lý luận về áp dụng pháp luật và quy định của BLTTDS năm 2015 về áp dụng BPKCTT, Tác gia để xuất khái niệm về “Ap dung biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án” như sau: “Ap dung biện pháp khẩn cấp tạm thời khi giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án là hình thức áp dung pháp luật to tụng dan sự, được Tòa án tự mình áp dụng hoặc áp dụng theo yêu cầu của đương sự, người đại điện hợp pháp của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, nhằm giải quyết ngay yéu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ tinh mạng, sức khỏe, tài san, thu thập chứng cứ, bảo vệ chứng cứ, bảo toàn tình trạng hiện có tranh gay thiệt hại không thê khắc phục được, dam bao cho việc giải quyết vu an hoặc việc thi hành an”. Đặc điển của áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án Như đã phân tích ở trên, áp dụng các BPKCTT là hoạt động áp dụng pháp luật, nên có đầy đủ những đặc điểm cơ bản của hoạt động áp dụng pháp ầ Trường Đại học Luật Hà Nội, (2020), Giáo trình Lý luận Nhà nước và Pháp luật, NXB Công an Nhân dân, Trang 470. 16 luật, cụ thể: Mang tính quyền lực nhà nước; do cơ quan nhà nước có thâm quyên thực hiện; phải tuân theo những hình thức và thủ tục chặt chẽ do pháp luật quy định; mang tính cá biệt, cụ thé và đòi hỏi tính sang tao.
Bên cạnh những đặc điểm co bản này, áp dụng các BPKCTT những đặc điểm riêng biệt, cụ thé như sau: - Về chủ thé có quyên yêu cầu áp dụng BPKCTT trong giải quyết vụ án dân sự tại Tòa an - Trong trường hợp vụ án đã được Toả án thụ lý và giải quyết, thì đương sự (Nguyên đơn, Bị đơn, Người có quyên, nghĩa vụ liên quan) và Người đại diện hợp pháp của đương sự” có quyền yêu câu áp đụng BPKCTT trong quá trình Toà án giải quyết vụ án để tạm thời giải quyết yêu cầu cấp bách của đương sự, bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, thu thập chứng cứ, bảo vệ chứng cứ, bảo toàn tinh trạng hiện có tránh gây thiệt hại không thể khắc phục được, đảm bảo cho việc giải quyết vụ án hoặc việc thi hành án”. - Trong trường hợp trước khi Toa án thụ lý vụ án, thì chỉ có co quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện hoặc người đại diện hợp pháp của tô chức, cá nhân khởi kiện mới có quyển yêu cầu Toa án áp dụng biện pháp khan cấp tạm thời đồng thời với việc nộp đơn khởi kiện để nhằm mục đích bảo vệ ngay chứng cứ trong trường hợp nguôn chứng cứ đang bị tiêu hủy, có nguy cơ bị tiêu hủy hoặc sau này khó có thé thu thập được; ngăn chặn hậu qua nghiêm trọng về vật chất hoặc tinh thần có thê xảy ra và cần phải được giải quyết ngay, không chậm trểễ.