Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT KIỂM SOÁT HOẠT ĐỘNG GÂY Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG BIỂN TRONG HOẠT ĐỘNG HÀNG HẢI 1. Ô nhiễm môi trường biển trong hoạt động hàng hải và hậu quả của ô nhiễm môi trường biển trong hoạt động hàng hải Những năm gần đây, song song với vấn đề phát triển kinh tế thì vấn đề ÔNMT biển và hậu quả ÔNMT do chịu ảnh hưởng trực tiếp từ hoạt động hàng hải có xu hướng gia tăng. Sự biến động của môi trường đã và đang có tác động mạnh đến hệ sinh thái biển. Để tìm hiểu hậu quả của ÔNMT biển trong hoạt động hàng hải, chúng ta cần tìm hiểu khái niệm ÔNMT biển trong hàng hải và một số khái niệm liên quan đến hoạt động hàng hải.
Khái niệm ô nhiễm môi trường biển trong hoạt động hàng hải Môi trường biển theo quy định tại Khoản 2 Điều 2 Nghị định số 25/2009/NĐ-CP ngày 6/3/2009 là "các yếu tố vật lý, hóa học và sinh học đặc trưng cho nước biển, đất ven biển, trầm tích biển, không khí trên mặt biển và các hệ sinh thái biển tồn tại một cách khách quan, ảnh hưởng đến con người và sinh vật" [15]. Như vậy môi trường biển hình thành, phát triển theo quy luật tự nhiên, không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của con người. Với các lợi ích khai thác từ biển, hoạt động hàng hải là một trong những hoạt động tác động đến môi trường biển nhiều nhất. Dựa trên nghiên cứu và thực tiễn, ta có thể tổng hợp các hoạt động hàng hải gồm: - Hoạt động đóng mới và sửa chữa tàu biển được triển khai tại các nhà máy đóng tàu sát bờ biển và những nhà máy nằm trên các lưu vực sông.
- Hoạt động tại cảng. Cảng là nơi trung chuyển các loại hàng hóa từ nước ngoài vào Việt Nam và từ Việt Nam ra nước ngoài (khoảng 80-90% tổng lượng hàng hóa thương mại). 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Hoạt động phá dỡ tàu cũ đang ngày càng gia tăng với nhiều chủng loại được phá dỡ. Phương pháp phá dỡ hầu hết là thủ công.
- Hoạt động của các tuyến hàng hải là sự lưu thông của các phương tiện vận tải hàng hải trên các tuyến hàng hải. Hiện nay, hoạt động hàng hải ở Việt Nam phát triển mạnh. Vận tải biển trong thời gian qua, do thực hiện tốt chính sách quyền vận tải nội địa, đã tạo cơ hội cho đội tàu trong nước phát triển, đặc biệt là tàu container, số lượng tàu container mang cờ quốc tịch Việt Nam đã tăng lên là 33 tàu (từ 19 tàu vào năm 2013). Đội tàu mang cờ quốc tịch Việt Nam cơ b ản đã đảm nhâ ̣n đươ ̣c gần 100% lượng hàng vâ ̣n tải nô ̣i điạ b ằng đường biển, trừ mô ̣t số tàu chuyên dụng như LPG, xi măng rời… Trong 6 tháng đầu năm 2017, sản lượng vận tải do đội tàu biển Việt Nam thực hiện ước đạt 88,5 triệu tấn, tăng 3% so với cùng kỳ năm 2016.
Tình hình kinh doanh của các doanh nghiệp vận tải biển Việt Nam tiếp tục gặp nhiều khó khăn do dư thừa nguồn cung tàu, lượng hàng tăng trưởng thấp, giá cước giảm. Nhiều doanh nghiệp vận tải biển, trong đó có các doanh nghiệp lớn, tiếp tục thua lỗ. Sản lượng hàng hóa thông qua cảng biển bằng phương tiện VR-SB trong 6 tháng đầu năm 2017 ước đạt 8,1 triệu tấn tăng 62% so với cùng kỳ năm trước với khoảng hơn 10 nghìn lượt tàu. Phạm vi hoạt động của đội tàu biển Việt Nam chủ yếu trên các tuyến vận tải ngắn Đông Nam Á và Đông Bắc Á.
Hiện chỉ đảm đương khoảng 10% thị phần vận tải hàng hoá xu ất, nhập khẩu của Việt Nam. Nguyên nhân do kém liên kết giữa các chủ tàu với nhau và chủ tàu với chủ hàng. Về đội tàu biển, theo số liệu tại Sổ đăng ký tàu biển quốc gia, tính đến ngày 30/6/2017, Viê ̣t Nam có t ổng số 1.617 tàu biển mang cờ quốc tịch Việt Nam đang hoạt động, với tổng dung tích gần 4,8 triệu GT, tổng trọng tải khoảng 7,8 triệu DWT. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Cảng biển trong 6 tháng đầu năm 2017, sản lươ ̣ng hàng hóa thông qua hê ̣ thố ng cảng biể n Viê ̣t Nam ư ớc đạt 254,5 triệu tấn, tăng 11% so với cùng kỳ, đạt 51% kế hoạch năm, trong đó hàng công-te-nơ đạt 6,87 triệu TEUs, tăng 5% so với cùng kỳ năm 2016, đạt 46% so với kế hoạch năm 2017.
Hiện nay, cả nước có 44 cảng biển (259 bến cảng) với 64.684 mét dài cầu cảng, tổng công suất thiết kế khoảng 500 triệu tấn hàng/năm. Hệ thống cảng biển Việt Nam đã đáp ứng được yêu cầu vận chuyển hàng hóa vận tải bằng đường biển, phục vụ tích cực cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội vùng ven biển và cả nước, tạo đô ̣ng lực thu hút , thúc đẩy các ngành kinh tế , công nghiê ̣p liên quan cùng phát triển. Hầu hết các cảng biển hiện do các doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân sở hữu và quản lý khai thác. Chỉ có 04 bến cảng mới được đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách trong giai đoạn gần đây nhà nước vẫn nắm giữ quyền sở hữu kết cấu hạ tầng và tổ chức cho thuê khai thác.
Cục Hàng hải Việt Nam (HHVN) là cơ quan được giao làm đại diện ký hợp đồng cho thuê khai thác các cầu 5, 6, 7 cảng Cái Lân (Quảng Ninh), bến cảng ODA Thị Vải, bến cảng ODA Cái Mép (Bà Rịa - Vũng Tàu) và bến cảng An Thới (Phú Quốc). Dịch vụ hàng hải và logistics theo xếp hạng của Ngân hàng Thế giới (WB), năm 2017 Việt Nam đứng thứ 64/160 nước về mức độ phát triển logistics và đứng thứ 4 trong ASEAN sau Singapore (5), Malaysia (32) và Thái Lan (45). Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm của lĩnh vực logistics Việt Nam là 16-20%. Cả nước hiện nay có khoảng 1.300 doanh nghiệp tham gia cung cấp các loại hình dịch vụ hàng hải và logistics, 70% trong đó có trụ sở tại khu vực Thành phố Hồ Chí Minh.
Khoảng 30 công ty logistics quốc tế chiếm thị phần lớn về dịch vụ logistics. Các công ty logistics của Việt Nam với số lượng nhiều nhưng chỉ chiếm thị phần tương đối nhỏ, chủ yếu thực hiện một số khâu dịch vụ trong chuỗi dịch vụ logistics hoặc làm đại lý cho hãng tàu biển nước ngoài. Hiện có 68 doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ lai dắt 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trên cả nước. Hoạt động của các công ty lai dắt tàu biển về cơ bản có thuận lợi.
Sau một số hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh giữa các doanh nghiệp trong lĩnh vực này, hiện Bộ GTVT đã ban hành quyết định khung giá dịch vụ bốc dỡ container và quyết định giá dịch vụ lai dắt tại cảng biển, qua đó sẽ hạn chế được tình trạng phá giá, bảo đảm bình đẳng giữa các doanh nghiệp. Công nghiệp tàu thủy cả nước hiện có 69 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp đóng tàu biển và một số cơ sở đóng tàu tư nhân tại các địa phương như Hải Phòng, Nam Định, Thái Bình, Hải Dương. Trong 6 tháng đầu năm 2017, tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp đóng và sửa chữa tàu biển tiếp tục gặp khó khăn, sản lượng đóng mới tàu giảm mạnh. Với tàu thương mại, việc đầu tư đóng mới các tàu vận tải biển rất hạn chế, chủ yếu tập trung vào đầu tư các loại tàu vận tải đường sông, sông - biển (SB) với giá thành hợp lý.
Theo báo cáo của Tổng công ty Công nghiệp tàu thủy giá trị sản xuất trong 6 tháng đầu năm 2017 ước chỉ đạt khoảng 38% so với kế hoạch cả năm 2017. Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình tái cơ cấu nhưng tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vẫn còn rất khó khăn, chưa thể có lợi nhuận. Sự phát triển của ngành công nghiệp đóng tàu dẫn đến sự phát triển của các dịch vụ có liên quan, thu hút một nguồn lao động lớn đặc biệt là ở các vùng ven biển. Dịch vụ hàng hải như đại lý tàu biển, bốc xếp hàng hóa tại cảng, lai dắt tàu biển, đại lý tàu biển, giao nhận hàng hóa, khoa hàng và dịch vụ xử lý chất thải cũng đã không ngừng phát triển.
Hoạt động hàng hải ngày càng có vài trò và vị trí quan trọng trong đời sống kinh tế, xã hội của đất nước. Do vậy, nhiệm vụ đặt ra cho mọi lực lượng tham gia hoạt động hàng hải là phải đi đôi vơi công tác BVMT và phát triển bền vững. Dưới góc độ pháp lý, do Việt Nam là thành viên của Công ước Luật Biển năm 1982 nên ta có thể tiếp cận khái niệm ÔNMT biển của Công ước này. Theo Khoản 4 Điều 1 Công ước Luật Biển năm 1982 thì ÔNMT biển là: 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Việc con người trực tiếp hoặc gián tiếp đưa các chất liệu hoặc năng lượng vào môi trường biển, bao gồm cả các cửa sông, khi việc đố gây ra hoặc có thể gây ra những tác hại như gây tổn hại đến nguồn lợi sinh vật, và đến hệ động vật, và hệ thực vật biển, gây nguy hiểm cho sức khỏe của con người, gây trở ngại cho các hoạt động ở biển, kể cả việc đánh bắt hải sản và các việc sử dụng biển một cách hợp pháp khác, làm biến đổi chất lượng nước biển về phương tiện sử dụng nó và làm giảm sút các giá trị mỹ cảm của biển [41].
Nhìn chung, ÔNMT biển trong hoạt động hàng hải là sự biến đổi môi trường biển theo chiều hướng xấu, gây bất lợi cho con người và các cá thể sống khác bởi các hoạt động hàng hải như hoạt động đóng mới và sửa chữa tàu biển hoạt động tại cảng, hoạt động phá dỡ tàu cũ, hoạt động của các tuyến hàng hải. Thực trạng môi trường biển Thực trạng môi trường biển hiện nay là vấn đề cấp thiết, và nhức nhối dư luận. Hoạt động đóng mới và sửa chữa tàu biển có thể gây ra nhiều tác động tới môi trường. Từ quy trình đóng mới tàu biển cho thấy ô nhiễm chủ yếu là kim loại nặng dưới dạng bột ô xít như oxít Pb3O4, Pb2O3, PbCrO3… Trong quy trình công nghệ đóng tàu, nhiên liệu xăng dầu được sử dụng khá nhiều, gây ra lượng dầu thải tương đối lớn trong các công đoạn thi công.
Tất cả các kim loại nặng: Zn, Cu, Hg, Cr đều có trong nước và trầm tích, đó là những kim lại có độc tính cao.