Tổng quan nghiên cứu

Trong tiến trình đổi mới và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tình hình tội phạm tại Việt Nam xuất hiện nhiều diễn biến phức tạp với phương thức, thủ đoạn ngày càng tinh vi. Dữ liệu tổng kết qua 12 năm thi hành Bộ luật Hình sự năm 1999 ghi nhận tình trạng các đối tượng lấy hành vi phạm pháp làm phương tiện sinh nhai có xu hướng gia tăng, trong đó nhóm tội xâm phạm sở hữu và trật tự quản lý kinh tế chiếm hơn 60% tổng số vụ án có tính chất chuyên nghiệp. Những hành vi này trực tiếp đe dọa trật tự công cộng và gây thiệt hại nghiêm trọng cho tài sản nhà nước cùng quyền lợi của công dân. Tuy nhiên, việc nhận diện và xử lý loại tội phạm này vẫn gặp nhiều vướng mắc do thiếu vắng định nghĩa pháp lý trực tiếp trong luật thực định.

Mục tiêu trọng tâm của luận văn là hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận, phân tích các đặc trưng pháp lý và điều kiện áp dụng tình tiết phạm tội có tính chất chuyên nghiệp trong luật hình sự Việt Nam. Về mặt thực tiễn, đề tài tiến hành khảo sát và đánh giá thực trạng xét xử sơ thẩm tại hệ thống Tòa án nhân dân trong giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2010 đối với 05 nhóm tội danh trọng điểm. Phạm vi thời gian nghiên cứu bao quát các giai đoạn phát triển lập pháp từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến năm 2012. Ý nghĩa nghiên cứu thể hiện rõ nét qua việc cung cấp các luận cứ khoa học nhằm nâng cao trên 90% độ chính xác trong định khung hình phạt, hạn chế tối đa các sai sót xét xử và định hướng hoàn thiện chính sách hình sự quốc gia.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng 02 nền tảng lý thuyết chủ đạo trong khoa học pháp lý: Lý thuyết cấu thành tội phạm và phân hóa trách nhiệm hình sự của Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Hòa và Giáo sư, Tiến sĩ khoa học Lê Văn Cảm, kết hợp với Lý thuyết tội phạm học nhập môn và nhân thân người phạm tội của Tiến sĩ Dương Tuyết Miên. Mô hình nghiên cứu đặt trọng tâm vào mối tương quan giữa mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi với chính sách nghiêm trị quy định tại Điều 3 và Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 1999.

Bốn khái niệm then chốt được luận giải chuyên sâu bao gồm:

  1. Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp: Hành vi của người cố ý thực hiện tội phạm nhiều lần và lấy kết quả của các lần phạm tội làm nguồn thu nhập chính, phương tiện sinh sống cơ bản.
  2. Phạm tội nhiều lần: Tình trạng một người thực hiện từ 02 lần hành vi phạm tội trở lên đối với cùng một khách thể trực tiếp mà các hành vi đó chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
  3. Tái phạm và tái phạm nguy hiểm: Trạng thái nhân thân của người đã bị kết án nhưng chưa được xóa án tích lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội mới do cố ý.
  4. Nguồn sống chính: Toàn bộ hoặc phần lớn thu nhập thực tế mà người phạm tội thu được từ hành vi phi pháp để duy trì cuộc sống thường ngày. Tình tiết này được thiết chế là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự tại Điều 48 thuộc 14 nhóm tình tiết tăng nặng chung, đồng thời đóng vai trò tình tiết định khung tại 16 điều luật của Phần các tội phạm.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn thu thập nguồn dữ liệu thực chứng từ hơn 1.200 bản án sơ thẩm và các báo cáo nghiệp vụ định kỳ của Tòa án nhân dân tối cao cùng Bộ Công an trong mốc thời gian từ năm 2008 đến năm 2010. Phương pháp chọn mẫu phân tầng có chủ đích được sử dụng để phân loại dữ liệu theo 05 nhóm tội danh điển hình gồm: xâm phạm sở hữu, xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, tội phạm ma túy, an toàn trật tự công cộng và mua bán người.

Phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa phân tích văn bản quy phạm, tổng hợp lịch sử lập pháp, thống kê xã hội học pháp lý và đối chiếu án lệ thực tế. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là nhằm đối chiếu khách quan giữa lý luận định danh với các biến số xét xử thực tiễn, bảo đảm tính xác thực và khoa học cho các kết luận nghiên cứu. Toàn bộ chuỗi dữ liệu và phân tích lý luận được thực hiện liên tục trong tiến trình nghiên cứu từ năm 2010 đến năm 2012.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, nghiên cứu chỉ rõ điểm bất cập trong hướng dẫn tại Mục 5 Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP khi đặt ra tiêu chí định lượng bắt buộc người phạm tội phải "cố ý phạm tội từ 05 lần trở lên về cùng một tội phạm". Tiêu chí này dẫn đến việc bỏ lọt khoảng 30% đến 35% các đối tượng phạm nhiều tội danh khác nhau liên tiếp (như kết hợp giữa trộm cắp, lừa đảo và cướp giật) dù bản chất hành vi đều lấy các nguồn lợi bất chính này làm nguồn sống chính.

Thứ hai, việc quy định tình tiết phạm tội chuyên nghiệp làm tình tiết định khung tăng nặng trong Bộ luật Hình sự năm 1999 (với 16 điều luật ban đầu và 02 điều luật bổ sung năm 2009 là Điều 164a và Điều 226b) phân bố chưa đồng đều. Thống kê xét xử thực tế cho thấy nhóm tội xâm phạm sở hữu và tội buôn bán người chiếm tỷ trọng áp đảo, lên tới trên 60% tổng số các vụ án có áp dụng tình tiết định khung chuyên nghiệp.

Thứ ba, thực tiễn xét xử tồn tại tỷ lệ sai sót đáng kể khi có từ 15% đến 20% bản án tại một số Tòa án cấp quận, huyện nhầm lẫn giữa tình tiết phạm tội có tính chất chuyên nghiệp với tình tiết phạm tội nhiều lần (từ 02 lần trở lên) hoặc tái phạm, gây ảnh hưởng trực tiếp đến tính nghiêm minh và chuẩn xác của bản án.

Thảo luận kết quả

Dữ liệu của luận văn được cấu trúc thành 09 bảng thống kê chi tiết từ Bảng 2.1 đến Bảng 2.9, tương ứng với các biểu đồ phân bổ cơ cấu tội phạm xét xử sơ thẩm giai đoạn 2008 - 2010. Bảng 2.1 phản ánh số liệu tổng kết 12 năm xét xử tội buôn bán người, trong khi chuỗi Bảng 2.2 đến 2.4 thể hiện tỷ trọng xét xử các tội xâm phạm sở hữu. Biểu đồ dữ liệu minh chứng rõ ràng sự tập trung cao của tình tiết chuyên nghiệp tại các nhóm tội danh vụ lợi kinh tế so với các nhóm tội phạm phi tài sản.

Nguyên nhân căn bản của các tồn tại trên là do Bộ luật Hình sự năm 1999 chưa định nghĩa trực tiếp khái niệm tại Phần chung, dẫn đến sự phụ thuộc vào các văn bản giải thích dưới luật và sự nhận thức thiếu đồng nhất của đội ngũ Thẩm phán. So với các công trình nghiên cứu trước đây, luận văn làm sáng tỏ luận điểm: Yếu tố bản chất của tính chuyên nghiệp phải là việc lấy tội phạm làm nghề sinh sống và tạo nguồn thu nhập cơ bản, không nên bó hẹp thuần túy ở điều kiện cơ học là 05 lần cùng một tội danh.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu, luận văn đề xuất 04 nhóm giải pháp mang tính hành động nhằm hoàn thiện chính sách hình sự:

  1. Luật hóa định nghĩa pháp lý vào Bộ luật Hình sự: Ban soạn thảo dự thảo sửa đổi Bộ luật Hình sự cần bổ sung trực tiếp định nghĩa khái niệm "phạm tội có tính chất chuyên nghiệp" tại Điều 48 Phần chung trong giai đoạn xây dựng luật 2013 - 2015. Mục tiêu đạt tỷ lệ chuẩn hóa lập pháp 100%, chấm dứt tình trạng thiếu quy phạm gốc.
  2. Ban hành Nghị quyết mới thay thế Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP: Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cần ban hành nghị quyết mới trong thời hạn từ 06 đến 12 tháng, mở rộng diện áp dụng đối với người thực hiện từ 05 lần phạm tội trở lên ở các tội danh khác nhau nếu lấy kết quả làm nguồn sống chính. Mục tiêu xử lý dứt điểm 100% các vướng mắc trong định tội danh đa hành vi.
  3. Bổ sung tình tiết định khung vào các tội danh mới: Cơ quan lập pháp cần nghiên cứu bổ sung tình tiết chuyên nghiệp vào các điều luật thuộc nhóm tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, môi trường và công nghệ cao, nâng số lượng điều luật bao phủ thêm từ 20% đến 25%.
  4. Chuẩn hóa quy trình nghiệp vụ và tập huấn liên ngành: Bộ Công an và Viện kiểm sát nhân dân tối cao cần định kỳ 02 lần mỗi năm tổ chức các khóa bồi dưỡng nghiệp vụ và ban hành sổ tay hướng dẫn thống nhất. Mục tiêu kéo giảm tỷ lệ án bị hủy, sửa do nhầm lẫn tình tiết tăng nặng xuống dưới 2%.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là nguồn tư liệu học thuật và thực tiễn giá trị dành cho 04 nhóm đối tượng:

  1. Thẩm phán, Kiểm sát viên và Điều tra viên: Nắm vững các tiêu chí định lượng và dấu hiệu nguồn sống chính để phân định chính xác tình tiết chuyên nghiệp trong quá trình giải quyết hơn 1.200 vụ án hình sự mỗi năm, bảo đảm nguyên tắc cá thể hóa hình phạt.
  2. Ban soạn thảo luật và chuyên gia chính sách hình sự: Sử dụng dữ liệu thực chứng và lập luận lý thuyết 12 năm để tham mưu, sửa đổi các điều khoản về tình tiết tăng nặng và tình tiết định khung trong các dự thảo luật.
  3. Giảng viên, học viên cao học và sinh viên ngành Luật: Khai thác 09 bảng biểu số liệu thống kê và khung phân tích khoa học làm tài liệu giảng dạy, học tập chuyên sâu môn Luật Hình sự và Tội phạm học.
  4. Luật sư và người bào chữa: Vận dụng hệ thống lập luận pháp lý sắc bén để xây dựng phương án bào chữa hiệu quả, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trước các áp dụng sai lệch về tình tiết tăng nặng.

Câu hỏi thường gặp

Thế nào là phạm tội có tính chất chuyên nghiệp theo pháp luật hiện hành? Theo Điều 48 Bộ luật Hình sự và Mục 5 Nghị quyết 01/2006/NQ-HĐTP, người bị coi là phạm tội có tính chất chuyên nghiệp khi thỏa mãn 02 điều kiện: cố ý phạm tội từ 05 lần trở lên về cùng một tội phạm và lấy các lần phạm tội làm nghề sinh sống, nguồn thu nhập chính.

Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp khác gì so với phạm tội nhiều lần? Phạm tội nhiều lần chỉ đòi hỏi thực hiện hành vi từ 02 lần trở lên đối với cùng một tội danh chưa bị xét xử, không xét đến nguồn thu nhập. Ngược lại, phạm tội chuyên nghiệp yêu cầu tối thiểu 05 lần và bắt buộc phải coi tội phạm là phương tiện sinh nhai cơ bản.

Thực hiện 05 lần phạm tội ở các tội danh khác nhau có bị coi là chuyên nghiệp không? Theo văn bản hướng dẫn hiện hành thì chưa được coi là phạm tội chuyên nghiệp do yêu cầu phải cùng một tội danh. Tuy nhiên, luận văn đã phân tích và chứng minh đây là hạn chế lập pháp cần được sửa đổi để bao quát cả hành vi phạm nhiều tội khác nhau vì mục đích kiếm sống.

Tình tiết chuyên nghiệp có được áp dụng đồng thời vừa định khung vừa tăng nặng không? Theo nguyên tắc chung của luật hình sự, nếu tình tiết này đã được quy định là yếu tố định khung hình phạt tại điều luật cụ thể ở Phần các tội phạm thì tuyệt đối không được áp dụng làm tình tiết tăng nặng tại Điều 48, bảo đảm 100% nguyên tắc không xử lý tăng nặng hai lần.

Số liệu xét xử các vụ án buôn bán người và xâm phạm sở hữu phản ánh điều gì? Dữ liệu tổng kết 12 năm của Tòa án nhân dân tối cao chỉ ra rằng hai nhóm tội này chiếm trên 60% số vụ án có yếu tố chuyên nghiệp. Các đối tượng thường hoạt động liên tục, có sự chuẩn bị kỹ lưỡng và hoàn toàn dựa vào nguồn lợi phi pháp để duy trì đời sống.

Kết luận

Luận văn đã giải quyết toàn diện các yêu cầu nghiên cứu với 05 đóng góp nổi bật:

  • Hệ thống hóa chuẩn mực cơ sở lý luận và lịch sử chế định phạm tội chuyên nghiệp từ năm 1945 đến năm 2012.
  • Làm sáng tỏ 02 yếu tố cấu thành bản chất gồm số lần thực hiện hành vi và dấu hiệu nguồn sống chính.
  • Phản ánh trung thực bức tranh thực tiễn thông qua 09 bảng biểu thống kê xét xử sơ thẩm giai đoạn 2008 - 2010.
  • Chỉ rõ các nguyên nhân dẫn đến 15% đến 20% sai sót nghiệp vụ trong hoạt động xét xử của Tòa án địa phương.
  • Kiến nghị 04 nhóm giải pháp hoàn thiện lập pháp và hướng dẫn thực thi cho giai đoạn 2013 - 2015.

Đề tài khẳng định việc chuẩn hóa quy định pháp luật về phạm tội có tính chất chuyên nghiệp là yêu cầu cấp thiết để nâng cao hiệu lực phòng chống tội phạm. Độc giả và những người làm công tác thực tiễn có thể tra cứu, trích dẫn tài liệu để phục vụ hiệu quả cho công tác nghiên cứu học thuật và hoạt động tố tụng.