Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về hôn nhân cận huyết thống và kiếm soát bằng pháp luật đối với hôn nhân cận huyết thống. Chương 2: Thực trạng pháp luật về kiểm soát hôn nhân cận huyết thống tại Việt Nam. Chương 3: Thực tiễn áp dụng pháp luật kiểm soát hôn nhân cận huyết thống và một số giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện và áp dụng pháp luật. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HÔN NHÂN CẬN HUYẾT THỐNG VÀ YÊU CẦU KIỂM SOÁT BẰNG PHÁP LUẬT ĐỐI VỚI HÔN NHÂN CẬN HUYẾT THỐNG 1.
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HÔN NHÂN CẬN HUYẾT THỐNG 1. Khái niệm và bản chất pháp lý của hôn nhân Có thể nói, hôn nhân và gia đình là một trong những thể chế cổ xưa nhất của loài người. Sự gắn kết giữa hai cá thể đã là một phạm trù cơ bản và nguyên thủy. Ngay từ những trang đầu tiên, Kinh Thánh đã đề cập đến hôn nhân như là một sự kết hợp giữa hai con người khác giới với mục đích phát triển mối quan hệ xã hội đặc trưng: “Giê-hô-va Đức Chúa trời dùng chiếc xương sườn đã lấy từ A-đam dựng nên một người nữ và đưa đến cho A-đam.
A-đam nói rằng: Bây giờ mới có người này, là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi, nàng sẽ được gọi là nữ, vì từ người nam mà có. Bởi vậy, người nam sẽ xa lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai trở nên một thịt” [4, tr. Hôn nhân nói đến ở đây dù chưa thật sự được định hình rõ nét nhưng về cơ bản đã hướng tới vấn đề cốt lõi của khái niệm hôn nhân, đó là sự tương tác đặc biệt giữa hai người, tạo thành một quan hệ đôi bên bền vững hướng tới mục tiêu phát triển: “Hãy sinh sôi nảy nở cho nhiều, đầy mặt đất và thống trị nó” [4, tr. Dưới cái nhìn của Phật giáo, hôn nhân là sự kết giao thế tục của đôi bên và đôi vợ chồng phải có bổn phận với nhau.
Phật học nhấn mạnh sự hòa hợp giữa vợ và chồng khi hình thành đời sống hôn nhân, đồng thời quan tâm tới bổn phận mà mỗi người phải thực hiện khi chung sống với người bạn đời của mình. Một bản Kinh nguyên thủy trong Kinh Tạng Pàli – Sigalovada Sutta, tóm lược như sau: “Này Gia chủ tử, có năm cách, người chồng phải đối xử với vợ như phương Tây: Kính trọng vợ, không bất kính đối với vợ; trung thành với vợ; giao quyền hành cho vợ; sắm đồ nữ trang với vợ; Này Gia chủ tử, được chồng đối xử như phương Tây theo năm cách như vậy, người vợ có lòng thương tưởng chồng 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com theo năm cách: Thi hành tốt đẹp bổn phận của mình; khéo tiếp đón bà con; trung thành với chồng; khéo gìn giữ tài sản của chồng; khéo léo và nhanh nhẹn làm mọi công việc” [18, tr. Trên nền tảng đạo đức nhà Phật, hôn nhân không được khuyến khích, nhưng Đức Phật tán thán những cặp vợ chồng sống hạnh phúc với nhau. Trên thế giới, một khái niệm được coi như cổ xưa và mang tính truyền thống về hôn nhân của Cơ đốc giáo được Lord Penzance đưa ra trong phán quyết về vụ án Hyde v Hyde (1866) như sau: “Hôn nhân là sự liên kết tự nguyện suốt đời giữa một người đàn ông và một người đàn bà, mà không vì mục đích nào khác” [29, tr.
Khái niệm này tuy được đưa ra cách đây khá lâu xong vẫn thể hiện được một số đặc điểm cốt lõi của hôn nhân như: Tính chất tự nguyện, tính bền vững và tính chất dị giới. Ngoài khái niệm trên, hiện nay, một số luật gia ở Châu Âu và Mỹ quan niệm: “Hôn nhân là sự liên kết pháp lý giữa một người nam và một người nữ với tư cách là vợ chồng” [30], hoặc: “Hôn nhân là hành vi hoặc tình trạng chung sống giữa một người nam và một người nữ với tư cách là vợ chồng” [28, tr. Các khái niệm này đều nhấn mạnh tới tư cách vợ chồng của hai người khác giới. Tuy nhiên hiện nay, với sự phát triển đa dạng của xã hội, vấn đề giới tính được đặt ra bàn luận dưới cơ sở vững chắc về quyền con người đã khiến một số quan điểm pháp lý mà đặc biệt là quan niệm về hôn nhân được thay đổi một cách phù hợp hơn, đó là việc thừa nhận hôn nhân đồng tính.
Trong phiên bản mới cuốn từ điển giải thích nổi tiếng của Pháp - cuốn Le Petit Robert, khái niệm “hôn nhân” được giải thích là “sự kết hợp hợp pháp giữa nam và nữ và trong một vài hệ thống pháp luật là sự kết hợp giữa hai người cùng giới”. Hay trong phần diễn giải từ điển Oxford nêu: “ Hôn nhân có thể là một mối quan hệ chính thống có đối tác là đồng giới”. Ở Việt Nam, trước khi Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 có hiệu lực, chưa có một khái niệm chính thức nào về hôn nhân được ghi nhận trong luật. Một khái niệm được sử dụng phổ biến trong giai đoạn này là “giá thú”, “giá thú (hay hôn thú) là sự phối hợp của một người đàn ông và một người đàn bà theo thể thức luật định” [17, tr.239], hoặc “giá thú” cũng được hiểu: “sự trai gái lấy 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhau trước mặt viên hộ lại và phát sinh ra những nghĩa vụ tương hỗ cho hai bên về phương diện đồng cư, trung thành và tương trợ” [13, tr.
Trong Từ điển Tiếng Việt của Hoàng Phê đưa ra một khái niệm ngắn gọn “Hôn nhân là việc nam nữ chính thức lấy nhau làm vợ chồng” [16, tr. Trong Luật HN&GĐ Việt Nam năm 2000, khái niệm hôn nhân đã được các nhà làm luật và các nhà nghiên cứu luật học quan tâm hơn với quy định: “Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi đã kết hôn” (Khoản 6, Điều 8), Luật HN&GĐ năm 2014 cũng giữ nguyên khái niệm về hôn nhân như Luật HN&GĐ năm 2000 (Khoản 1, Điều 3). Còn theo Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học của trường Đại học Luật Hà Nội, hôn nhân được hiểu là: “Sự liên kết giữa người nam và người nữ dựa trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, theo điều kiện và trình tự nhất định, nhằm chung sống với nhau suốt đời và xây dựng gia đình hạnh phúc và hoà thuận” [24, tr. Từ đây có thể thấy hôn nhân thực chất là việc xác lập quan hệ vợ chồng trước pháp luật thông qua sự kiện kết hôn với tính chất tự nguyện, tính bền vững, tính chất một vợ một chồng, tính dị giới và tính chất luật định.
Hiện nay vấn đề bản chất pháp lý của hôn nhân vẫn đang được tranh luận và tồn tại nhiều quan điểm khác nhau, trong đó việc coi hôn nhân là hợp đồng hay là một thiết chế pháp luật là hai luồng ý kiến khác nhau. Xét trên khía cạnh pháp lý, rất dễ nhầm lẫn quan hệ hôn nhân với quan hệ giao kết hợp đồng vì cả hai đều thể hiện sự thỏa thuận đôi bên nhằm mục đích thiết lập một quan hệ pháp lý nào đó và hướng tới việc phát sinh, thực hiện quyền, nghĩa vụ đối với nhau. Tuy nhiên, nếu xem xét một cách kỹ lưỡng có thể thấy, hôn nhân và hợp đồng là hai chế định không đồng nhất. Mục đích chủ yếu của hôn nhân là để tạo lập gia đình, trong khi mục đích của hợp đồng là tạo lập, thay đổi và chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự.
Mặt khác trong giao kết hợp đồng, năng lực chủ thể giao kết không phụ thuộc vào các yếu tố như giới tính, huyết thống, điều kiện một vợ một chồng như trong hôn nhân. Ngoài ra, một hợp đồng có thể chấm dứt do các bên trong hợp đồng thoả thuận hoặc do ý chí đơn phương của một bên, mà không cần có phán quyết của Toà án. Trong khi đó, một quan hệ hôn nhân 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chỉ chấm dứt khi có bản án, quyết định của Toà án xử cho ly hôn hoặc công nhận thuận tình ly hôn. Tóm lại, hôn nhân chỉ nên xem là một thiết chế nhằm xác lập tư cách vợ chồng cho đôi bên trước pháp luật mà thôi.
Quan niệm về huyết thống và hôn nhân cận huyết thống 1. Dưới góc độ xã hội Lịch sử hình thành và phát triển của loài người từ thuở sơ khai cho đến nay đã trải qua rất nhiều những giai đoạn, trong đó có những giai đoạn đánh dấu bước chuyển biến từ một quần thể mang tính loài qua một xã hội mang tính người nhiều hơn. Ở thời kỳ tiền sử, sự liên kết giữa một người đàn ông và một người đàn bà không có sự phân chia ngôi thứ thích thuộc, không có bất cứ sự ràng buộc, ngăn cách hoặc giới hạn nào. Giữa họ đơn thuần là mối quan hệ bản năng thuần túy nhằm thỏa mãn nhu cầu tính loài và được đặc trưng bởi lối sống, sinh hoạt bầy đàn.
Đương nhiên, quan niệm về huyết thống chưa được hình thành. Bước tiếp cùng với sự phát triển không ngừng của xã hội loài người, sự tương tác giữa các cá thể trong quần thể người dần dần có xu hướng văn minh hơn với sự xuất hiện của hình thái hôn nhân – gia đình dù còn sơ khai và tồn tại những hạn chế nhất định (Gia đình huyết tộc, gia đình Puna Luan và hôn nhân đối ngẫu). Điều đáng nói ở đây là từ thể chế quần hôn, loài người dần hướng tới quan hệ hôn nhân gia đình cá thể, và cũng từ đó kéo theo sự xuất hiện quan niệm huyết thống, họ hàng hay những người có cùng dòng máu. Huyết thống trước hết được hiểu là quan hệ về di truyền sinh học, là quan hệ giữa cha, mẹ và con trong đó người này sinh ra người kia.
Về mặt sinh học, con cái là kết quả của quá trình thụ tinh giữa tinh trùng của người cha và trứng (noãn) của người mẹ. Khi một đứa trẻ chào đời, giữa đứa trẻ đó và bố mẹ của chúng tồn tại những điểm tương đồng trên phương diện di truyền mà trước hết là cấu trúc Gene và đặc điểm thể chất. Quan hệ này tiếp tục phái sinh theo chiều dọc khi những người con tiếp tục quá trình sinh sản. Mặt khác, theo quan niệm truyền thống của Việt Nam, huyết thống còn được hiểu là quan hệ ruột thịt với 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhau như quan hệ anh chị và em, ông bà và cháu, cô dì, chú bác, cậu với các cháu hay còn gọi là quan hệ họ hàng.