Tổng quan nghiên cứu

Trong giai đoạn 2005 - 2010, nền kinh tế Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) bình quân 7%/năm, quy mô nền kinh tế năm 2009 đạt 101,6 tỷ USD, gấp 3,26 lần so với năm 2000. Cùng với việc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), môi trường kinh doanh đã thu hút lượng vốn đầu tư toàn xã hội chiếm tới 42,9% GDP và xếp thứ 93/183 nền kinh tế theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới (WB) và Công ty Tài chính Quốc tế (IFC). Tuy nhiên, quá trình mở cửa thương mại cũng đẩy hơn 95% doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nước vào sức ép cạnh tranh gay gắt từ các tập đoàn đa quốc gia và các doanh nghiệp quy mô lớn sẵn có trên thị trường. Vấn đề lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường nhằm áp đặt điều kiện thương mại bất bình đẳng, ngăn cản đối thủ gia nhập ngành và bóp méo cấu trúc thị trường tự do đã trở thành rào cản lớn đối với sự phát triển bền vững.

Luận văn tập trung nghiên cứu cơ chế kiểm soát hành vi lạm dụng của các doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường theo quy định của Luật Cạnh tranh năm 2004 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Mục tiêu cụ thể của đề tài là hệ thống hóa các vấn đề lý luận về sức mạnh thị trường, đánh giá thực trạng quy định pháp luật cùng thực tiễn áp dụng tại Việt Nam từ năm 2005 đến năm 2012, đối chiếu với kinh nghiệm quốc tế tại Hàn Quốc và Trung Quốc. Nghiên cứu mang ý nghĩa thiết thực trong việc đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu lực của cơ quan quản lý cạnh tranh, hoàn thiện khung pháp lý nhằm giảm thiểu các rủi ro độc quyền và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người tiêu dùng cũng như cộng đồng doanh nghiệp yếu thế.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết cấu trúc thị trường cổ điển (Structure-Conduct-Performance - SCP) và lý thuyết về sự điều tiết độc quyền tự nhiên của kinh tế học thể chế. Các lý thuyết này chỉ ra rằng cấu trúc tập trung kinh tế cao dễ dẫn tới các hành vi phản cạnh tranh nếu thiếu sự can thiệp và kiểm soát phù hợp từ phía Nhà nước.

Bên cạnh đó, luận văn làm rõ 4 khái niệm pháp lý cốt lõi bao gồm:

  1. Thị trường liên quan: Được xác định dựa trên thị trường sản phẩm liên quan có khả năng thay thế về đặc tính, giá cả, mục đích sử dụng và thị trường địa lý liên quan theo quy định tại Điều 3 Luật Cạnh tranh 2004.
  2. Vị trí thống lĩnh thị trường: Trạng thái doanh nghiệp có thị phần từ 30% trở lên trên thị trường liên quan hoặc có khả năng gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể.
  3. Hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh: Các hành vi ấn định giá, phân biệt đối xử, ngăn cản xâm nhập thị trường được quy định cụ thể tại Điều 13 Luật Cạnh tranh 2004 nhằm triệt tiêu cạnh tranh.
  4. Kiểm soát pháp lý đối với hành vi lạm dụng: Hệ thống các quy phạm, thiết chế giám sát, điều tra và chế tài xử lý do cơ quan quản lý cạnh tranh thực thi để duy trì trật tự thị trường công bằng.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp từ hệ thống văn bản pháp quy (Luật Cạnh tranh 2004, Nghị định số 116/2005/NĐ-CP, Nghị định số 120/2005/NĐ-CP, Nghị định số 05/2006/NĐ-CP, Nghị định số 06/2006/NĐ-CP, Pháp lệnh Giá 2002), báo cáo thường niên của Cục Quản lý Cạnh tranh và dữ liệu thống kê kinh tế xã hội giai đoạn 2005 - 2011 từ Tổng cục Thống kê.

Nghiên cứu sử dụng cỡ mẫu khảo sát thứ cấp gồm hơn 300 doanh nghiệp thuộc 6 vùng kinh tế trọng điểm và 50 cơ quan quản lý chuyên ngành (như Cục Điều tiết Điện lực, Cục Hàng hải, Cục Quản lý Giám sát Bảo hiểm). Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu phân tầng kết hợp chỉ tiêu nhằm phản ánh đúng tỷ trọng của 3 khối doanh nghiệp: doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân (chiếm 95,7% tổng số doanh nghiệp) và doanh nghiệp FDI (khoảng 5.626 đơn vị). Phương pháp phân tích luật học so sánh, tổng hợp - đối chiếu và phân tích logic pháp lý được lựa chọn nhằm giúp đánh giá đa chiều tính tương thích giữa quy định định lượng trong luật thực định với bản chất kinh tế động của hành vi lạm dụng trên thương trường.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình phân tích thực tiễn và khung pháp lý đã đưa ra 4 phát hiện căn bản:

Thứ nhất, tiêu chí xác định vị trí thống lĩnh thị trường theo phương pháp định lượng cứng (doanh nghiệp có thị phần từ 30% trở lên, nhóm 2 doanh nghiệp từ 50%, 3 doanh nghiệp từ 65% và 4 doanh nghiệp từ 75% theo Điều 11 Luật Cạnh tranh 2004) bộc lộ sự bất cập. Tiêu chí này không phản ánh toàn diện sức mạnh thị trường thực tế trong các lĩnh vực đặc thù như viễn thông, phân phối phim hay nhiên liệu bay.

Thứ hai, mức độ nhận thức pháp luật cạnh tranh còn rất chênh lệch giữa các nhóm chủ thể. Dù tỷ lệ doanh nghiệp biết đến Luật Cạnh tranh tăng từ 69,8% năm 2008 lên 79,8% năm 2010, vẫn có tới 25% doanh nghiệp hoàn toàn chưa biết đến luật. Đáng chú ý, 96,6% doanh nghiệp tiếp cận thông qua tự tìm hiểu và 86,2% thiếu cán bộ chuyên trách có trình độ pháp lý về cạnh tranh.

Thứ ba, sự thiếu hụt về nhận thức của các cơ quan quản lý nhà nước khi có tới 49,5% đơn vị được khảo sát năm 2010 không nắm rõ chức năng của Cục Quản lý Cạnh tranh, dẫn đến việc nhiều hành vi vi phạm bị bỏ lọt hoặc xử lý theo hướng hòa giải hành chính.

Thứ tư, hiệu quả xử lý thực tế các vụ việc lạm dụng còn rất hạn chế. Giai đoạn 2005 - 2011, Cục Quản lý Cạnh tranh chỉ mới thụ lý điều tra 02 vụ việc khiếu nại điển hình (vụ Bia Tân Hiệp Phát khiếu nại Liên doanh Nhà máy Bia Việt Nam và vụ 6 doanh nghiệp phát hành phim khiếu nại Megastar áp mức giá thuê tối thiểu 25.000 đồng/vé, làm sụt giảm 25% - 50% doanh thu của các rạp chiếu phim nội địa).

Thảo luận kết quả

Các phát hiện trên cho thấy khoảng cách lớn giữa quy định pháp luật trên văn bản và thực tiễn thực thi. Dữ liệu nghiên cứu có thể được minh họa trực quan thông qua bảng ma trận so sánh mức độ nhận thức pháp lý theo các năm và biểu đồ tròn phân bổ thị phần của các nhóm doanh nghiệp theo vùng kinh tế (Đông Nam Bộ chiếm tới 51% doanh thu và 62,6% lợi nhuận cả nước, trong khi Tây Nguyên chỉ chiếm 2% doanh thu).

Nguyên nhân căn bản của tình trạng này xuất phát từ mô hình cơ quan cạnh tranh phân tán hai cấp giữa Cục Quản lý Cạnh tranh và Hội đồng Cạnh tranh theo Nghị định số 05/2006/NĐ-CP và Nghị định số 06/2006/NĐ-CP, khiến tính độc lập tài phán bị hạn chế do trực thuộc Bộ Công Thương. Khi so sánh với mô hình Ủy ban Thương mại Công bằng Nhật Bản (JFTC) hay Ủy ban Thương mại Lành mạnh Hàn Quốc (KFTC) - những cơ quan độc lập trực thuộc Thủ tướng với quyền hạn điều tra và xử phạt hình sự, bộ máy cạnh tranh của Việt Nam chưa có đủ quyền năng cưỡng chế. Điều này dẫn đến việc xử lý các vụ việc độc quyền nhóm hay lạm dụng vị trí thống lĩnh kéo dài nhiều năm mà không đưa ra được phán quyết cuối cùng, làm giảm tính nghiêm minh của pháp luật.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm hoàn thiện khung pháp lý và nâng cao hiệu quả kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường tại Việt Nam, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

  1. Sửa đổi và bổ sung tiêu chí xác định sức mạnh thị trường đáng kể trong Luật Cạnh tranh: Quốc hội cần sửa đổi Điều 11 Luật Cạnh tranh 2004 theo hướng kết hợp linh hoạt giữa tỷ lệ thị phần (ngưỡng 30%) với các yếu tố định tính bổ trợ như rào cản gia nhập thị trường, năng lực tài chính, quyền tiếp cận mạng phân phối và sức mạnh đối kháng của người mua. Mục tiêu là hoàn thiện dự thảo luật sửa đổi trước năm 2015, nâng tỷ lệ nhận diện chính xác các vụ việc lạm dụng lên trên 80%.
  2. Tái cấu trúc và hợp nhất cơ quan quản lý cạnh tranh: Chính phủ và Bộ Công Thương cần hợp nhất Cục Quản lý Cạnh tranh và Hội đồng Cạnh tranh thành một Cơ quan Cạnh tranh Quốc gia duy nhất, độc lập, có thẩm quyền điều tra, xử lý độc lập và trực thuộc Chính phủ hoặc Quốc hội trong lộ trình 2014 - 2016 nhằm rút ngắn 40% thời gian xử lý thủ tục tố tụng cạnh tranh.
  3. Bổ sung và đa dạng hóa các chế tài xử phạt vi phạm: Bổ sung chế tài hình sự đối với các hành vi cố ý duy trì vị thế thống lĩnh để triệt tiêu đối thủ cạnh tranh gây hậu quả nghiêm trọng, đồng thời tăng mức phạt tiền hành chính lên đến 10% tổng doanh thu của năm tài chính trước đó theo quy định tại Nghị định số 120/2005/NĐ-CP. Bộ Tư pháp và Tòa án nhân dân tối cao chủ trì thực hiện từ năm 2013 đến năm 2015.
  4. Tăng cường tuyên truyền và đào tạo nghiệp vụ chuyên sâu về cạnh tranh: Cục Quản lý Cạnh tranh phối hợp với Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tổ chức các khóa tập huấn thường niên cho 100% hiệp hội ngành nghề và tối thiểu 1.000 doanh nghiệp mỗi năm, phấn đấu đến năm 2015 nâng tỷ lệ hiểu biết đúng về quyền tự vệ theo Luật Cạnh tranh lên trên 90%.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nghiên cứu này là tài liệu tham khảo giá trị cho 4 nhóm đối tượng chính:

  1. Các nhà hoạch định chính sách và cơ quan quản lý nhà nước: Cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn để Bộ Công Thương và Quốc hội nghiên cứu sửa đổi, hoàn thiện Luật Cạnh tranh và các văn bản hướng dẫn xử phạt vi phạm hành chính.
  2. Cộng đồng doanh nghiệp và đội ngũ luật sư tư vấn kinh doanh: Giúp các doanh nghiệp vừa và nhỏ nhận diện rõ 6 nhóm hành vi lạm dụng bị cấm, từ đó chủ động xây dựng cơ chế tự vệ pháp lý và hỗ trợ luật sư thiết lập hồ sơ khởi kiện cạnh tranh thương mại.
  3. Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Luật Kinh tế: Cung cấp tài liệu nghiên cứu chuyên khảo về pháp luật kiểm soát độc quyền, phân tích sâu các case study thực tế như vụ kiện Megastar và Bia Laser Tân Hiệp Phát.
  4. Các hiệp hội ngành nghề và tổ chức bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng: Cung cấp phương pháp đánh giá thị trường liên quan và mức độ lũng đoạn giá cả, làm cơ sở thực hiện quyền khiếu nại tập thể khi quyền lợi thành viên bị xâm phạm.

Câu hỏi thường gặp

Doanh nghiệp chiếm bao nhiêu phần trăm thị phần thì bị coi là có vị trí thống lĩnh thị trường?
Theo Điều 11 Luật Cạnh tranh 2004, một doanh nghiệp được coi là có vị trí thống lĩnh nếu có thị phần từ 30% trở lên trên thị trường liên quan hoặc có khả năng gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể. Đối với nhóm doanh nghiệp, ngưỡng quy định là 50% (hai doanh nghiệp), 65% (ba doanh nghiệp) và 75% (bốn doanh nghiệp).

Việc doanh nghiệp đạt được vị trí thống lĩnh thị trường có bị pháp luật cấm không?
Pháp luật không cấm doanh nghiệp đạt được vị trí thống lĩnh thị trường thông qua nỗ lực đầu tư, nâng cao năng suất và cạnh tranh lành mạnh. Pháp luật chỉ nghiêm cấm hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh đó để thực hiện các hành vi hạn chế cạnh tranh, ngăn cản doanh nghiệp khác gia nhập thị trường hoặc bóc lột người tiêu dùng theo Điều 13 Luật Cạnh tranh 2004.

Hành vi áp đặt giá bán hàng hóa bất hợp lý được nhận diện như thế nào trong thực tế?
Hành vi áp đặt giá bất hợp lý thể hiện qua việc doanh nghiệp thống lĩnh tự ý tăng giá bán trên 5% trong vòng 6 tháng mà không có biến động chi phí đầu vào hợp lý, hoặc duy trì mức giá bán dưới giá thành toàn bộ nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh, tương tự dấu hiệu trong vụ khiếu nại phân phối phim của Megastar năm 2010.

Cơ quan nào có thẩm quyền điều tra và xử lý hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường?
Theo quy định tại Nghị định số 05/2006/NĐ-CP và Nghị định số 06/2006/NĐ-CP, Cục Quản lý Cạnh tranh chịu trách nhiệm tiếp nhận khiếu nại, thu thập chứng cứ và tiến hành điều tra sơ bộ/chính thức. Sau khi hoàn tất điều tra, hồ sơ vụ việc được chuyển sang Hội đồng Cạnh tranh để mở phiên điều trần và ra quyết định xử lý theo thẩm quyền.

Hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường có được hưởng chính sách miễn trừ không?
Khác với các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh có thể được xem xét miễn trừ có thời hạn theo Điều 10 Luật Cạnh tranh 2004 (như thúc đẩy tiến bộ kỹ thuật, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia), các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường bị cấm tuyệt đối và không áp dụng bất kỳ cơ chế miễn trừ nào do tính chất nguy hại trực tiếp đến cấu trúc thị trường.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn về kiểm soát hành vi lạm dụng của các doanh nghiệp có vị trí thống lĩnh thị trường tại Việt Nam giai đoạn 2005 - 2012.
  • Làm rõ những bất cập trong việc áp dụng phương pháp định lượng thị phần cứng nhắc (ngưỡng 30%, 50%, 65%, 75%) và sự chồng chéo chức năng giữa Cục Quản lý Cạnh tranh và Hội đồng Cạnh tranh.
  • Đánh giá thực trạng nhận thức pháp luật của hơn 300 doanh nghiệp và phân tích sâu các bài học kinh nghiệm từ các vụ án cạnh tranh kinh điển như Megastar và Vinapco (phạt 3 tỷ đồng).
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp có tính khả thi cao nhằm sửa đổi khung pháp lý, hợp nhất bộ máy thực thi và nâng cao chế tài xử phạt theo hướng tiếp cận kinh nghiệm quốc tế.
  • Khuyến nghị các nhà nghiên cứu và cơ quan quản lý tiếp tục theo dõi quá trình xây dựng Luật Cạnh tranh sửa đổi trong giai đoạn tiếp theo để hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Quý bạn đọc và các chuyên gia có thể tham khảo chi tiết toàn bộ luận văn để ứng dụng hiệu quả vào công tác nghiên cứu và thực tiễn quản trị doanh nghiệp.