Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ CẠNH TRANH VÀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ CẠNH TRANH 1. KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ CẠNH TRANH 1. Khái niệm hoạt động quản lý cạnh tranh Quản lý cạnh tranh tốt thì lợi ích của người tiêu dùng, của doanh nghiệp và nhà nước được đảm bảo. Chủ thể của quản lý cạnh tranh không ai khác là Nhà nước theo phương thức truyền thống sẽ sử dụng pháp luật làm công cụ để thực hiện.
Cạnh tranh diễn ra trong hầu hết các lĩnh vực của đời sống con người và cạnh tranh trong kinh tế là một loại cạnh tranh. Cạnh tranh trong kinh doanh được hiểu là hành vi của các doanh nghiệp kinh doanh cùng loại hàng hóa hoặc những hàng hóa có thể thay thế cho nhau nhằm tiêu thụ hàng hóa hoặc dịch vụ trên một thị trường [24]. Đối với khái niệm kinh tế, đây là khái niệm rộng hơn kinh doanh. Lĩnh vực kinh tế của một quốc gia bao gồm các ngành dịch vụ như đa dạng như: hàng không, ngân hàng, bảo hiểm, phân phối xăng dầu, viễn thông …; các ngành sản xuất như xi măng, sắt thép, phân bón hóa học, thức ăn chăn nuôi, sữa… Căn cứ phân chia và cơ cấu các ngành kinh tế ở Việt Nam theo Quyết định số 10/2007/QĐ-TTg ngày 23/01/2007 của Thủ tướng Chính phủ quy định về 21 nhóm ngành với 642 hoạt động kinh tế cụ thể.
Các ngành kinh tế có vai trò thiết thực đối với cuộc sống của con người nói riêng và sự phát triển của kinh tế đất nước nói chung. Các ngành kinh tế của nước ta hiện diện ở trong nhiều thành phần kinh tế: kinh tế tư nhân, kinh tế tập thể, kinh tế tư bản nhà nước, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Sự đa dạng của ngành nghề, các thành phần kinh tế và những đặc trưng của kinh tế thị trường đã tạo ra sự cạnh tranh trong kinh tế. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nền kinh tế thị trường hiện nay tồn tại rất nhiều những mặt trái mà nổi cộm lên là sự cạnh tranh không lành mạnh, sự độc quyền của một số doanh nghiệp đối với những ngành nghề khác nhau.
Hoạt động cạnh tranh được hiểu là tất cả các hoạt động nhằm để điều chỉnh cho những nội dung được quy định trong luật cạnh tranh được thực hiện với mục đích làm cho môi trường cạnh tranh trở nên lành mạnh, phát huy được các yếu tố tích cực của cạnh tranh. Sự quản lý đối với hoạt động cạnh tranh góp phần làm nâng cao hiệu lực thực thi của Luật Cạnh tranh, để luật đi vào cuộc sống thiết thực, phát huy tính tích cực của cạnh tranh, hướng đến môi trường cạnh tranh lành mạnh của nền kinh tế và hơn thế nữa là nhằm tăng hiệu quả của nền kinh tế. Việt Nam đã có chế định pháp lý riêng để điều chỉnh các quan hệ, hành vi cạnh tranh, chống cạnh tranh không lành mạnh và kiểm soát độc quyền trong kinh tế. Luật Cạnh tranh được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 03/12/2004; Chủ tịch nước ký Lệnh công bố Luật vào ngày 14/12/2004 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2005.
Luật Cạnh tranh cùng các văn bản hướng dẫn là là khuôn khổ pháp lý cho hoạt động quản lý cạnh tranh. Luật Cạnh tranh có phạm vi tác động liên quan đến cả nền kinh tế, điều chỉnh bao trùm lên các loại hình, các ngành kinh tế. Bên cạnh đó một số lĩnh vực như Điện lực, Viễn thông. cũng đã có Luật riêng trong đó có những nội dung điều chỉnh quản lý cạnh tranh trong từng hoạt động của ngành.
Như vậy, môi trường pháp lý cho hoạt động quản lý cạnh tranh đã được thể chế hóa bằng những chủ trương, chính sách quan trọng. Từ khi Việt Nam chuyển đổi nền kinh tế từ tập trung bao cấp sang nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa thì từ lúc đó lĩnh vực kinh tế mới xuất hiện thuật ngữ cạnh tranh. Và cũng từ khi xuất hiện cạnh tranh, pháp luật nước ta mới bắt đầu tiếp cận với mặt trái của kinh tế thị trường nhằm bảo vệ cạnh tranh lành mạnh. Tuy nhiên, kể từ khi có sự ra đời của pháp luật cạnh tranh tới nay, 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khoa học pháp lý Việt Nam chưa có một định nghĩa nào cụ thể về hoạt động quản lý cạnh tranh mặc dù khi đề cập tới pháp luật cạnh tranh các nhà nghiên cứu đều xác định được nội dung của hoạt động này.
Theo các chuyên viên của Cục Quản lý Cạnh tranh (trực thuộc Bộ Công thương), hiện tại không có văn bản nào của các cơ quan nhà nước định nghĩa chính thức về hoạt động quản lý cạnh tranh. Trong phạm vi của đề tài nghiên cứu, yêu cầu đặt ra là cần xác định rõ bản chất của hoạt động quản lý cạnh tranh. Khái niệm về hoạt động quản lý cạnh tranh mà tôi đưa ra sau đây dựa trên nền tảng lý luận về hoạt động quản lý và các yếu tố đặc thù của cạnh tranh trong lĩnh vực kinh tế thị trường Việt Nam. Mục đích của việc xác khái niệm này nhằm xây dựng cơ sở lý luận, định hướng cho nội dung cần nghiên cứu của tổng thể luận văn.
Hoạt động quản lý cạnh tranh là hoạt động của cơ quan được nhà nước trao thẩm quyền nhằm thực thi pháp luật cạnh tranh, thống nhất từ khâu phát hiện, điều tra đến xử lý hành vi vi phạm pháp luật về cạnh tranh nhằm bảo đảm môi trường cạnh tranh lành mạnh, khuyến khích cạnh tranh lành mạnh. Hoạt động quản lý cạnh tranh của Việt Nam luôn luôn đặt tiêu chí phải trên cơ sở tôn trọng quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp, tạo điều kiện để các doanh nghiệp phát triển. - Tính chất của hoạt động quản lý cạnh tranh: là hoạt động gián tiếp, trong quá trình thực hiện chức năng này, Nhà nước chỉ xuất hiện với tư cách đại diện cho quyền lợi chung của xã hội và một người cạnh tranh bình đẳng như những người cạnh tranh khác trên thị thường. - Chủ thể của hoạt động quản lý cạnh tranh: là cơ quan quản lý cạnh tranh, Bộ trưởng Bộ Công thương, Thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh, các điều tra viên, các cơ quan có thẩm quyền ở địa phương.
Điều 7 Luật Cạnh tranh năm 2004 của Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định trách nhiệm quản lý nhà nước về cạnh tranh gồm: Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về cạnh tranh; Bộ Thương mại chịu trách nhiệm trước Chính phủ 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thực hiện quản lý nhà nước về cạnh tranh; các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Thương mại thực hiện quản lý nhà nước về cạnh tranh [26]. - Khách thể của hoạt động quản lý cạnh tranh: cá nhân, doanh nghiệp hoạt động kinh doanh; các hành vi gây thiệt hại tới môi trường cạnh tranh hoặc gây trở ngại cho cạnh tranh lành mạnh. Thiết chế quản lý cạnh tranh Có thể nhận thấy rằng đối với cạnh tranh thì pháp luật đã có những thiết chế để thực hiện việc quản lý cạnh tranh. Thiết chế quản lý cạnh tranh đóng một vai trò quan trọng để phát huy hiệu quả của việc quản lý cạnh tranh là điều tiết cạnh tranh của nền kinh tế.
Ở những quốc gia có chính sách cạnh tranh, pháp luật cạnh tranh phát triển đều cho thấy mô hình các thiết chế được sử dụng phổ biến bao gồm các cơ quan cạnh tranh, tòa án - những cơ quan chủ đạo của hoạt động quản lý cạnh tranh [15]. Tùy theo truyền thống lập hiến, lập pháp và tình hình cụ thể của mỗi quốc gia mà các thiết chế được thành lập và đặt tên gọi khác nhau, việc phân định thẩm quyền trong quản lý cạnh tranh của các thiết chế cũng khác nhau. Tuy nhiên, thiết chế vẫn phải chứa đựng các yếu tố: hoạt động phải đảm bảo tính tin cậy cao; phải đảm bảo việc hoạt động và ra quyết định một cách độc lập; Phải đảm bảo tính minh bạch trong thực thi nhiệm vụ [14]. - Cơ quan quản lý cạnh tranh có thẩm quyền cơ bản là phát hiện và kiến nghị các cơ quan liên quan bãi bỏ các chính sách làm cản trở đến môi trường cạnh tranh; yêu cầu các tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp thông tin, chứng cứ trong quá trình điều tra xử lý vụ việc liên quan.
- Hội đồng cạnh tranh là mô hình cơ quan đặc biệt; quyết định của Hội đồng có giá trị bắt buộc thi hành, được đảm bảo thực hiện dựa trên quyền lực nhà nước. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Tòa án: là một cơ quan thực thi pháp luật và ở tất cả các quốc gia, tòa án có lịch sử lâu đời hơn so với mô hình cơ quan cạnh tranh. Hoạt động xét xử của tòa án đóng góp một phần quan trọng ở khâu tố tụng để pháp luật quản lý cạnh tranh hiệu quả. Đối với Việt Nam hiện nay, các thiết chế quản lý cạnh tranh rất đa dạng bởi không chỉ có các cơ quan có quyền lực nhà nước và nhân danh nhà nước mà còn có sự góp mặt của các thiết chế như: các hiệp hội doanh nghiệp (bao gồm các hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa, hiệp hội ngành nghề); hiệp hội người tiêu dùng; các cơ quan về lưu trữ, nghiên cứu và phân tích thông tin thị trường; ngoài ra, còn có sự giám sát, cảnh báo, định hướng của dư luận, của các cơ quan báo chí, các viện nghiên cứu và các cơ quan đào tạo.
Tuy nhiên, phần khái quát về nội dung thiết chế quản lý cạnh tranh ở đây chỉ nhấn mạnh về một số thiết chế mà có tầm ảnh hưởng lớn là: tòa án, các cơ quan cạnh tranh, hiệp hội doanh nghiệp, hiệp hội người tiêu dùng. Đặc biệt với sự ra đời của các cơ quan cạnh tranh, lần đầu tiên theo quy định của pháp luật cạnh tranh Việt Nam xuất hiện hai thiết chế mới là Cục quản lý cạnh tranh và Hội đồng cạnh tranh. - Cục Quản lý cạnh tranh - Bộ Công thương, có tên giao dịch viết bằng tiếng Anh: Vietnam Competition Administration Department, viết tắt là VCAD (Điều 1 Nghị định số 06/2006/NĐ-CP) [10].