KIỂM SOÁT TẬP TRUNG KINH TẾ THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT CẠNH TRANH TẠI VIỆT NAM

Tài liệu nghiên cứu Kiểm soát tập trung kinh tế theo quy định của pháp luật cạnh tranh tại việt nam, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên sâu về luật học.

Chuyên ngành

Luật Kinh Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

Năm

87
29
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Kiểm Soát Tập Trung Kinh Tế Việt Nam Hiện Nay

Bài viết này đi sâu vào phân tích Kiểm Soát Tập Trung Kinh Tế (KS TTKT) tại Việt Nam, dựa trên Luật Cạnh Tranh Việt Nam và thực tiễn thi hành. Mục tiêu là làm rõ các quy định pháp luật hiện hành, đánh giá hiệu quả thực thi, và đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế KS TTKT. Việc kiểm soát tập trung kinh tế có vai trò quan trọng trong việc duy trì cạnh tranh bình đẳng, bảo vệ người tiêu dùng, và thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững. Theo nghiên cứu của Trần Thuận, KS TTKT không chỉ là vấn đề pháp lý mà còn là yếu tố then chốt để đảm bảo môi trường kinh doanh lành mạnh và hiệu quả.

1.1. Luật Cạnh Tranh Việt Nam và vai trò trong kiểm soát tập trung

Luật Cạnh Tranh là nền tảng pháp lý cho KS TTKT tại Việt Nam. Luật này quy định các hành vi tập trung kinh tế bị cấm hoặc phải thông báo, thẩm định. Các quy định này nhằm ngăn chặn các hành vi hạn chế cạnh tranh do tập trung kinh tế gây ra. Việc tuân thủ Luật Cạnh Tranh là nghĩa vụ của mọi doanh nghiệp tham gia vào hoạt động sáp nhập doanh nghiệp (M&A), mua lại doanh nghiệp, hợp nhất doanh nghiệp, hoặc liên doanh doanh nghiệp.

1.2. Tập trung kinh tế Các hình thức và tác động đến thị trường

Tập trung kinh tế bao gồm nhiều hình thức như sáp nhập doanh nghiệp (M&A), mua lại doanh nghiệp, hợp nhất doanh nghiệp, và liên doanh doanh nghiệp. Mỗi hình thức tập trung kinh tế có những đặc điểm và tác động riêng đến thị trường liên quan. Việc đánh giá tác động của tập trung kinh tế là bước quan trọng để xác định liệu có cần thiết phải can thiệp để bảo vệ cạnh tranh bình đẳng hay không.

II. Thách Thức Thực Thi Kiểm Soát Tập Trung Kinh Tế Tại Việt Nam

Mặc dù đã có Luật Cạnh Tranh, việc thực thi kiểm soát tập trung kinh tế tại Việt Nam vẫn còn nhiều thách thức. Một trong những thách thức lớn nhất là việc xác định thị phần kết hợp và đánh giá sức mạnh thị trường của các doanh nghiệp sau tập trung kinh tế. Bên cạnh đó, năng lực của Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia (VCCA) trong việc thẩm định các vụ việc tập trung kinh tế phức tạp cũng cần được nâng cao. Theo báo cáo của VCCA, số lượng vụ việc tập trung kinh tế ngày càng tăng, đòi hỏi cơ quan này phải có đủ nguồn lực và chuyên môn để xử lý hiệu quả.

2.1. Khó khăn trong việc xác định thị phần kết hợp và sức mạnh thị trường

Việc xác định chính xác thị phần kết hợp và đánh giá sức mạnh thị trường là yếu tố then chốt trong thẩm định tập trung kinh tế. Tuy nhiên, việc này thường gặp nhiều khó khăn do thiếu dữ liệu, thông tin không đầy đủ, và sự phức tạp của thị trường liên quan. Các doanh nghiệp có thể cố tình che giấu thông tin hoặc sử dụng các phương pháp tính toán khác nhau để làm sai lệch thị phần kết hợp.

2.2. Năng lực của Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia VCCA còn hạn chế

Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia (VCCA) đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm soát tập trung kinh tế. Tuy nhiên, năng lực của VCCA còn hạn chế về nguồn lực, chuyên môn, và kinh nghiệm. Điều này ảnh hưởng đến khả năng thẩm định các vụ việc tập trung kinh tế phức tạp và đưa ra các quyết định chính xác, kịp thời. Do đó, cần tăng cường đầu tư cho VCCA để nâng cao năng lực hoạt động.

2.3. Nhận diện và ngăn chặn cạnh tranh không lành mạnh sau tập trung

Sau khi tập trung kinh tế, các doanh nghiệp có thể sử dụng sức mạnh thị trường để thực hiện các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, gây thiệt hại cho cạnh tranh bình đẳngbảo vệ người tiêu dùng. Việc nhận diện và ngăn chặn các hành vi này đòi hỏi sự giám sát chặt chẽ và các biện pháp xử lý nghiêm minh từ phía cơ quan quản lý cạnh tranh.

III. Giải Pháp Hoàn Thiện Quy Trình Kiểm Soát Tập Trung Kinh Tế

Để nâng cao hiệu quả kiểm soát tập trung kinh tế, cần hoàn thiện quy trình kiểm soát tập trung kinh tế theo hướng minh bạch, khách quan, và hiệu quả. Các giải pháp bao gồm việc sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật về ngưỡng thông báo tập trung kinh tế, tăng cường công khai thông tin về các vụ việc tập trung kinh tế, và nâng cao chất lượng thẩm định của VCCA. Bên cạnh đó, cần tăng cường hợp tác quốc tế để học hỏi kinh nghiệm từ các quốc gia có hệ thống kiểm soát tập trung kinh tế phát triển.

3.1. Điều chỉnh ngưỡng thông báo tập trung kinh tế phù hợp thực tế

Ngưỡng thông báo tập trung kinh tế cần được điều chỉnh để phù hợp với thực tế phát triển của nền kinh tế và đặc thù của từng ngành. Việc điều chỉnh ngưỡng thông báo cần dựa trên các tiêu chí khách quan và khoa học, đảm bảo không bỏ sót các vụ việc tập trung kinh tế có nguy cơ gây hạn chế cạnh tranh.

3.2. Nâng cao chất lượng thẩm định tập trung kinh tế của VCCA

Chất lượng thẩm định tập trung kinh tế của VCCA cần được nâng cao thông qua việc đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn cho cán bộ, đầu tư trang thiết bị hiện đại, và áp dụng các phương pháp phân tích kinh tế tiên tiến. Việc thẩm định tập trung kinh tế cần dựa trên các bằng chứng xác thực và các phân tích định lượng, định tính toàn diện.

3.3. Tăng cường minh bạch thông tin về các vụ việc tập trung kinh tế

Việc tăng cường minh bạch thông tin về các vụ việc tập trung kinh tế giúp các bên liên quan có thể tiếp cận thông tin đầy đủ và chính xác, từ đó giám sát và đóng góp ý kiến vào quá trình kiểm soát tập trung kinh tế. Thông tin cần được công khai bao gồm hồ sơ thông báo tập trung kinh tế, kết quả thẩm định tập trung kinh tế, và các quyết định của VCCA.

IV. Thực Tiễn Các Vụ Việc Tập Trung Kinh Tế Điển Hình Tại Việt Nam

Phân tích các vụ việc tập trung kinh tế điển hình tại Việt Nam giúp làm rõ các vấn đề pháp lý và thực tiễn liên quan đến kiểm soát tập trung kinh tế. Các vụ việc này cung cấp những bài học kinh nghiệm quý báu cho các doanh nghiệp và cơ quan quản lý trong việc thực thi Luật Cạnh Tranh và đảm bảo cạnh tranh bình đẳng. Nghiên cứu các án lệ về tập trung kinh tế cũng là một phương pháp hiệu quả để hiểu rõ hơn về cách áp dụng pháp luật trong thực tế.

4.1. Phân tích các án lệ về tập trung kinh tế tại Việt Nam

Việc nghiên cứu các án lệ về tập trung kinh tế giúp hiểu rõ hơn về cách tòa án và VCCA áp dụng pháp luật trong thực tế. Các án lệ này cung cấp hướng dẫn cho các doanh nghiệp trong việc tuân thủ quy định về tập trung kinh tế và tránh các hành vi hạn chế cạnh tranh.

4.2. Bài học kinh nghiệm từ các vụ việc tập trung kinh tế lớn

Các vụ việc tập trung kinh tế lớn tại Việt Nam thường thu hút sự quan tâm của dư luận và tạo ra những ảnh hưởng lớn đến thị trường. Việc phân tích các vụ việc này giúp rút ra những bài học kinh nghiệm về quy trình thông báo tập trung kinh tế, thẩm định tập trung kinh tế, và các biện pháp khắc phục hành vi hạn chế cạnh tranh.

4.3. Tác động của tập trung kinh tế đến ngành Tên ngành cụ thể

Việc phân tích tác động của tập trung kinh tế đến một ngành cụ thể giúp hiểu rõ hơn về ảnh hưởng của tập trung kinh tế đến cạnh tranh bình đẳng, bảo vệ người tiêu dùng, và phát triển kinh tế của ngành đó. Nghiên cứu này có thể cung cấp những thông tin hữu ích cho các nhà hoạch định chính sách và các doanh nghiệp hoạt động trong ngành.

V. Hội Nhập Kiểm Soát Tập Trung Kinh Tế Trong Bối Cảnh Quốc Tế

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, việc kiểm soát tập trung kinh tế cần được hài hòa với các chuẩn mực và thông lệ quốc tế. Các hiệp định thương mại tự do như CPTPPEVFTA có những quy định liên quan đến kiểm soát tập trung kinh tế. Việc tuân thủ các cam kết quốc tế là yếu tố quan trọng để thu hút đầu tư nước ngoài và thúc đẩy phát triển kinh tế.

5.1. CPTPP EVFTA và các quy định về kiểm soát tập trung kinh tế

CPTPPEVFTA có những quy định liên quan đến kiểm soát tập trung kinh tế, bao gồm các quy định về minh bạch thông tin, thủ tục thẩm định, và các biện pháp khắc phục hành vi hạn chế cạnh tranh. Các doanh nghiệp Việt Nam cần nắm vững các quy định này để đảm bảo tuân thủ khi tham gia vào các hoạt động tập trung kinh tế xuyên biên giới.

5.2. So sánh quy định về kiểm soát tập trung kinh tế Việt Nam và thế giới

Việc so sánh quy định về kiểm soát tập trung kinh tế của Việt Nam với các quốc gia khác giúp xác định những điểm mạnh, điểm yếu và những lĩnh vực cần cải thiện. Việc học hỏi kinh nghiệm từ các quốc gia có hệ thống kiểm soát tập trung kinh tế phát triển là cần thiết để nâng cao hiệu quả hoạt động của VCCA và đảm bảo cạnh tranh bình đẳng.

5.3. Kinh nghiệm quốc tế trong xử lý các vụ M A xuyên quốc gia

Các vụ M&A xuyên quốc gia thường có quy mô lớn và phức tạp, đòi hỏi sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý cạnh tranh của nhiều quốc gia. Việc học hỏi kinh nghiệm quốc tế trong xử lý các vụ M&A xuyên quốc gia giúp VCCA nâng cao năng lực và đảm bảo quyền lợi của Việt Nam trong các hoạt động tập trung kinh tế quốc tế.

VI. Triển Vọng Nâng Cao Hiệu Quả Kiểm Soát Tập Trung Kinh Tế

Để nâng cao hiệu quả kiểm soát tập trung kinh tế tại Việt Nam, cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, tăng cường năng lực cho VCCA, và nâng cao nhận thức của doanh nghiệp về tầm quan trọng của việc tuân thủ Luật Cạnh Tranh. Kiểm soát tập trung kinh tế hiệu quả sẽ góp phần tạo ra môi trường kinh doanh cạnh tranh, minh bạch, và bền vững, thúc đẩy phát triển kinh tế đất nước.

6.1. Hoàn thiện hệ thống pháp luật về kiểm soát tập trung kinh tế

Hệ thống pháp luật về kiểm soát tập trung kinh tế cần được tiếp tục hoàn thiện để đáp ứng yêu cầu của thực tiễn và phù hợp với các chuẩn mực quốc tế. Việc sửa đổi, bổ sung các quy định về ngưỡng thông báo tập trung kinh tế, thủ tục thẩm định, và các biện pháp khắc phục hành vi hạn chế cạnh tranh là cần thiết để nâng cao hiệu quả kiểm soát tập trung kinh tế.

6.2. Nâng cao năng lực cho Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia

Việc nâng cao năng lực cho Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia (VCCA) là yếu tố then chốt để đảm bảo hiệu quả kiểm soát tập trung kinh tế. VCCA cần được tăng cường nguồn lực, nâng cao chuyên môn, và trang bị các công cụ phân tích hiện đại để có thể thẩm định các vụ việc tập trung kinh tế phức tạp và đưa ra các quyết định chính xác, kịp thời.

6.3. Nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của Luật Cạnh Tranh

Việc nâng cao nhận thức của doanh nghiệp, người tiêu dùng, và cộng đồng về tầm quan trọng của Luật Cạnh Tranh là cần thiết để tạo ra một môi trường kinh doanh tuân thủ pháp luật và cạnh tranh lành mạnh. Các hoạt động tuyên truyền, phổ biến pháp luật cần được tăng cường để nâng cao hiểu biết về Luật Cạnh Tranh và các quy định liên quan đến kiểm soát tập trung kinh tế.

28/04/2025
Kiểm soát tập trung kinh tế theo quy định của pháp luật cạnh tranh tại việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương I: Những vẫn đề chung về tập trung kinh tế và quy định pháp luật kiếm soát tập trung kinh tế Chương 2: Thực trạng áp dụng quy định pháp luật và đề xuất hoàn thiện pháp luật | kiểm soát tập trung kinh tế tại Việt Nam. - | CHUONG 1: NHUNG VAN DE CHUNG VE TAP TRUNG KINH TE VA QUY DINH PHAP LUAT KIEM SOAT TAP TRUNG KINH TE 1.1 Cơ sở lý luận về tập trung kinh tế và kiểm soát tập trung kinh tế 1.1 Khái niệm và đặc điểm của tập trung kinh tế 1.1Khái niệm tập trung kinh tế Theo như Luật mẫu cạnh tranh của UNCTAD da không đưa ra khái niệm về TTKT mà lại sử dụng thuật ngữ “sáp nhập và mua lạ?” là trường hợp hai hay nhiều doanh nghiệp thực hiện hoạt động hợp pháp theo đó các doanh nghiệp hợp nhất quyền sở hữu đối với tài sản mà trước kia được kiêm soát riêng biệt. Những trường hợp như nói trên bao gồm các hoạt động thâu tóm, liên doanh và các hình thức giành quyền kiểm soát khác, bao gồm cả việc một cá nhân kiêm nhiệm chức vụ quản lý ở nhiều đoanh nghiệp khác nhau”. Pháp luật cạnh tranh (77) ở các quốc gia trên thế giới cũng quy định về TTKT một cách đa dạng, PLCT tại Singapore đã không đưa ra một khái niệm hoàn chỉnh về TTKT.

Thay vào đó, TTKT được hiểu là các hình thức sáp nhập, thâu tóm tài sản và vốn góp, việc thâu tóm các cô phần thiểu số, thành lập liên doanh hoặc các hành vi khác dẫn đến việc sáp nhập. Những hành vi này chỉ bị cắm nếu các giao địch đó gây ra hoặc có khả năng gây ra sự hạn chế cạnh tranh một cách đáng ké (substantial lessening of competition) trén thi Ÿ Tổ chức Thương mại và phát triển Liên Hợp Quốc (2010). Luật mẫu về cạnh tranh, Loạt công trình nghiên cứu của UNCTAD về các vận đề được đề cập trong luật và chính sách cạnh tranh. Link truy cap: https://unctad.org/en/Docs/tdrbpconf7d8_en.

trường Singapore”, cac giao dich TTKT sé khéng bi cam khi Uỷ ban cạnh tranh Singapore” xác định răng lợi ích có được từ TTKT lớn hơn tác hại mà nó mang lại hoặc khi Bộ trưởng Bộ Công Thương của Singapore ra quyết định miễn trừ đối với một vụ TTKT cụ thê vi lợi ích công. PLCT của Nhật Bản cũng không có khái niệm như thế nào được xem là TTKT mà lại quy định về hành vi TTKT trong đạo luật Chống độc quyên, bao gồm: mua cô phần, ban giám đốc chung, sáp nhập, mua lại, tách doanh nghiệp. Đạo luật này điều chỉnh các hành vi TTKT dưới hai góc độ: (1) hạn chế các hành vi TTKT gây hạn chế nghiêm trọng tới cạnh tranh; (ii) ngăn cản các hành vi TTKT nhằm hạn chế TTKT quá mức. Năm 2007, Cục Quản lý cạnh tranh và Uỷ ban thương mại lành mạnh Nhật Bản (Japan Fair Trade C ofmmission — SJƑTC”) đã ban hành “Hướng dân về việc áp dụng đạo luật chống độc quyền liên quan tới TIKT”, theo đó, có ba bước để xem một hành ví TTKT có bị cắm hay không: (1) xác định hành vị TTKT có liên quan (có hay không một trong các hình thức TTKT); (1) xác định thị trường liên quan (hành vì TTKT có diễn ra trong cùng một thị trường cụ thé hay khéng?); (iii) đánh giá tác động của hành vi TTKT đối với cạnh tranh (liệu hành vì này có gây hạn chế nghiêm trọng đối với cạnh tranh?).

PLCT tại Việt Nam cũng quy định về TTKT tương tự như quy định của phần lớn các nước trên thể giới, không đưa ra khái niệm mang tính khái quát chung dé định nghĩa về TTKT mà chỉ liệt kê các hành vi được xem là TTKT. Cụ thể, theo quy định của LCT 2018 thì TTKT bao gồm các hình thức sau đây: (¡) sáp nhập doanh nghiệp; (ii) hợp nhất doanh nghiệp; (ii) mua lại đoanh nghiệp: (iv) liên doanh giữa các doanh nghiệp; (v) các hành vị TTKTT khác theo quy định của pháp luật, từng hành vi trên được định nghĩa cụ thể tại Khoản 2, 3, 4, 5 Điều 29 LCT 2018. Có thể nhìn nhận, tiếp cận khái niệm về TTKT có rất nhiều cách thức khác nhau, tác giả của Luận văn này lựa chọn tiếp cận khái mệm TTKTT dưới góc độ pháp luật như là một hành vi pháp lý. Theo đó, qua việc nghiên cứu quy định pháp luật vả ° Lưu Hương Ly (2011).

Luật cạnh tranh của Singapore và những kinh nghiệm của Việt Nam. Tạp chi Luật học số 03/2011, 69-76. ” Competition Commission of Singapore — “CCS”. PLCT Nhdt Ban.

Tap chí Nhà nước và pháp luật số 08/2010, 59-73, * Luật Cạnh tranh 2018 số 23/2018/QH14 ngày 12/06/2018 (gọi tắt là LCT 2018), Khoản 1 Điều 29, 10 khoa học pháp lý ở các nước trên thế giới, đặc biệt là của Nhật Bản và Singapore, có thê thấy TTKT được tiếp cận chủ yếu từ khía cạnh giành quyền kiếm soát, quyền quản lý phát sinh từ quyền sở hữu tài sản, phần vốn góp. Điều này thế hiện thông qua bản chất của hành vi TTKT như sau: Thứ nhất, bản chất của TTKT là một hiện tượng binh thường trong hoạt động kinh doanh và tự thân TTKT là hoàn toàn hợp pháp theo quy định pháp luật về doanh nghiệp, đầu tư, chứng khoán. TTKT không phải là hành vi hạn chế cạnh tranh (HCCT), hành vi này chỉ có nguy cơ tiềm năng gây ra tác động HCCT một cách đáng kế cho thị trường. Vì vậy, nhà nước sẽ phải can thiệp và cắm đoán khi có đầy đủ cơ sở khăng định TTKT gây tác động hoặc có khả năng gây tác động cho cạnh tranh.

Thứ hai, bản chất của hành vi TTKT chính là tập trung quyền lực thị trường (market power), các doanh nghiệp có thế có sức mạnh thị trường đáng kế sau khi thực hiện TTKT - ở một mức độ đủ để giúp doanh nghiệp không cần phải đối mặt với áp lực cạnh tranh tử các đối thủ khác trên thị trường hoặc chịu sức ép tử việc g1a nhập thị trường của các đối thủ tiềm năng. Vì vậy, doanh nghiệp có thê hành động một cách tương đối độc lập với đối thủ cạnh tranh cũng như là với người tiêu đùng và có khả năng tăng lợi nhuận từ việc tăng và duy trì mức giá cao hơn mức giá được xác định trong thị trường cạnh tranh hoặc từ việc hạn chế sản lượng hay chất lượng dưới mức của thị trường cạnh tranh'?. Thứ ba, việc xem xét bản chất của hành vi TTKT nhất thiết cần phải xác định được sức mạnh thị trường mà TTKT có thê tạo ra và tác động của nó. Sức mạnh thị trường thông thường tiếp cận đưới hai góc độ bao gồm sức mạnh về giá và sức mạnh loại trừ.

Sức mạnh về giá là khả năng có thê gia tăng lợi nhuận từ việc tăng và duy trì mức giá cao hơn mức giá cạnh tranh hoặc khả năng kiểm soát, hạn chế sản lượng đề tăng giá'', Sức mạnh loại trừ là khả năng vượt trội trên thị trường để có thé thực hiện những hành vi ngăn cản, kìm hãm hay loại trừ đối thủ cạnh tranh, xâm hại '° Phùng Văn Thành (2012). Site manh thị trường đáng ké từ góc độ lý thuyết kinh tế đồn quy định cia PLCT. Bản tín Cạnh tranh và người tiêu dùng, số 36, tr.22, Phạm Trí Hùng, Hà Ngọc Anh (2014). Ban chất của tập trung kinh tẾ và kiểm soát tập trung kinh tế.

Tạp chí Khoa hoc phap ly (so 5/2014), tr. HH trực tiếp đến cấu trúc cạnh tranh và từ đó có thê tăng giá. Đây chính là lý do quan trọng được Cơ quan Quản lý cạnh tranh quan tâm khi tiễn hành kiểm soát các hành vi TTKT, nhằm xem xét liệu rằng các đoanh nghiệp sau khi TTKT có khả năng tạo ra vị trí thống lĩnh hoặc độc quyền với một sức mạnh đáng ké dé dé dang trục lợi từ khách hàng thông qua việc định một mức giá cao hơn mức cạnh tranh trước đó. Tóm lại, trên cơ sở tiếp cận từ khía cạnh giành quyền kiểm soát, quyền quản lý phát sinh từ quyền sở hữu tài sản, phần vốn góp, theo tác giả: Tập trung kinh tế là hành vi tập trung quyền lực thị trường dưới các hình thức thâu tóm trực tiếp, gián tiếp toàn bộ hoặc một phần tài sản, quyên, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác đủ để kiếm soát doanh nghiệp đó hoặc kết hợp toàn bộ hoặc một phân giữa các doanh nghiệp để cùng kiểm soát doanh nghiệp hình thành sau kết hợp.2Đặc điểm tập trung kinh tế Theo quy định của pháp luật Việt Nam, TTKT có đặc điểm pháp lý cơ bản sau: Thứ nhất, chủ thê thực hiện TTKT là các doanh nghiệp hoạt động độc lập trên thị trường”, hành vi hợp nhất, sáp nhập, liên đoanh hay mua lại.

chỉ xảy ra khi có nhiều doanh nghiệp cùng tham gia thực hiện. Đối chiếu các hành vi TTKT như quy định của LCT 2018 với pháp luật doanh nghiệp đề nhận thấy răng: chủ thể thực hiện hanh vi TTKT là các loại hình công ty, các hợp tác xã (/heo Luật hợp tác xã) và các cá nhân kinh doanh'? đã tồn tại và đang hoạt động một cách độc lập trên thị trường. Tuy nhiên, không phải mọi chủ thể là đối tượng áp dụng của Luật Cạnh tranh đều có thê tham gia vào các hành vi TTKT mà tuỳ thuộc vào từng hỉnh thức TTKT, các chủ thê tham gia sẽ phải đáp ứng điều kiện nhất định. Như trường hợp doanh nghiệp tư nhân có thể là đối tượng của mua bán doanh nghiệp nhưng không thẻ là chủ thế của hợp nhất, sáp nhập hay liên doanh giữa các doanh nghiệp'.

'* Hoàng Minh Chiến (2019), Kiểm soát tập trung kinh tế theo luật cạnh tranh 2018. Tạp chí Dân chủ & pháp luật số 3 (324)/2019, tr. '* Doanh nghiệp tư nhân không có tư cách pháp nhân nên không thê là nhà đầu tư thành lập, góp vốn mua cô phan, mua phân góp vôn và quản lý doanh nghiệp (điểm ä Khoản 2 Điều 17 Luật Doanh nghiệp 2020). Tại 12 Về cơ bản, các doanh nghiệp tham gia TTKT theo LCT 2018 là các đoanh nghiệp hoạt động trong cùng hoặc không củng thị trường liên quan (LCT 2004 chi điễu chỉnh đối với hành vì TTKT của những doanh nghiệp hoạt động trên cùng một thị trường liên quan).

Như vậy, việc có nhiều doanh nghiệp tham gia TTKT đã giúp phân biệt TTKT đưới góc độ pháp luật và TTKT đưới góc độ kinh tế - được hiểu là sự tăng trưởng nội sinh trên cơ sở tự mở rộng năng lực sản xuất, kinh doanh của mình.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Kiểm Soát Tập Trung Kinh Tế tại Việt Nam: Pháp Luật Cạnh Tranh và Thực Tiễn" cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách thức quản lý và kiểm soát các hoạt động tập trung kinh tế tại Việt Nam thông qua khung pháp lý cạnh tranh. Tài liệu này không chỉ phân tích các quy định hiện hành mà còn chỉ ra những thách thức và thực tiễn trong việc thực thi pháp luật. Độc giả sẽ nhận được những lợi ích từ việc hiểu rõ hơn về cách thức các quy định này ảnh hưởng đến thị trường và doanh nghiệp, từ đó có thể đưa ra quyết định kinh doanh thông minh hơn.

Để mở rộng kiến thức của bạn về lĩnh vực này, bạn có thể tham khảo tài liệu Pháp luật về tố tụng cạnh tranh đối với các hành vi cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam, nơi cung cấp thông tin chi tiết về các hành vi cạnh tranh không lành mạnh và cách thức pháp luật xử lý chúng. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về pháp luật cạnh tranh và thực tiễn tại Việt Nam.