Tổng quan nghiên cứu

Thị trường mua bán và sáp nhập (M&A) tại Việt Nam trong những năm gần đây ghi nhận sự bùng nổ mạnh mẽ về cả quy mô lẫn giá trị giao dịch. Năm 2018, tổng giá trị M&A tại Việt Nam đạt mức 7,6 tỷ USD, xác lập vị trí thứ 2 trong khu vực Đông Nam Á, chỉ sau Thái Lan với 9,3 tỷ USD và vượt qua Singapore với 6,7 tỷ USD. Trước đó, năm 2017 đã chứng kiến kỷ lục lịch sử với tổng giá trị đạt 10,2 tỷ USD, tăng trưởng 175% so với năm 2016. Trong bối cảnh hơn 90% doanh nghiệp Việt Nam có quy mô vừa và nhỏ đang tìm kiếm động lực mở rộng thông qua tăng trưởng ngoại sinh, hoạt động tập trung kinh tế (TTKT) trở thành chiến lược tất yếu để tái cơ cấu và nâng cao sức cạnh tranh.

Tuy nhiên, việc gia tăng nhanh chóng các giao dịch mua bán, sáp nhập và liên doanh nếu không đi kèm cơ chế kiểm soát hữu hiệu từ Nhà nước sẽ tiềm ẩn nguy cơ bóp méo cấu trúc thị trường, triệt tiêu động lực cạnh tranh và xâm phạm nghiêm trọng đến quyền lợi người tiêu dùng. Nhằm giải quyết yêu cầu cấp bách này, Luật Cạnh tranh năm 2018 (Luật số 23/2018/QH14) đã được Quốc hội khóa XIV thông qua với tỷ lệ biểu quyết tán thành đạt 95,28%, đánh dấu bước chuyển mình quan trọng từ cách tiếp cận hành chính cứng nhắc sang tư duy kinh tế hiện đại.

Đề tài luận văn thạc sĩ chuyên ngành Luật Kinh tế tập trung nghiên cứu toàn diện hệ thống quy định pháp luật cạnh tranh về kiểm soát tập trung kinh tế tại Việt Nam. Mục tiêu cụ thể là làm rõ bản chất pháp lý - kinh tế của hành vi, phân tích thực trạng áp dụng pháp luật trong giai đoạn chuyển giao 2016 - 2020 và đề xuất các giải pháp hoàn thiện khung pháp lý. Nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc tối ưu hóa quy trình thẩm định với thời hạn từ 30 đến 90 ngày, bảo đảm loại trừ 100% các rủi ro bỏ lọt giao dịch hạn chế cạnh tranh xuyên biên giới và hỗ trợ cộng đồng doanh nghiệp cắt giảm chi phí tuân thủ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng kết hợp giữa Lý thuyết Quyền lực thị trường (Market Power Theory) và Lý thuyết Đánh giá tác động hạn chế cạnh tranh đáng kể (Substantial Lessening of Competition - SLC). Luận văn tiếp cận việc kiểm soát tập trung kinh tế dưới góc độ ngăn chặn sự lạm dụng sức mạnh định giá và sức mạnh loại trừ đối thủ của các chủ thể kinh doanh sau giao dịch. Đồng thời, nghiên cứu tích hợp mô hình đo lường mức độ tập trung thị trường thông qua Chỉ số Herfindahl-Hirschman (HHI) - công cụ định lượng kinh tế học chuẩn mực được áp dụng rộng rãi tại Hoa Kỳ, Liên minh Châu Âu và Nhật Bản.

Khung lý thuyết của luận văn chuẩn hóa 5 khái niệm và hình thức pháp lý cốt lõi:

  1. Sáp nhập doanh nghiệp: Việc một hoặc một số doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang doanh nghiệp khác, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp bị sáp nhập.
  2. Hợp nhất doanh nghiệp: Việc hai hoặc nhiều doanh nghiệp kết hợp toàn bộ nguồn lực để hình thành một pháp nhân mới, chấm dứt hoàn toàn hoạt động của các doanh nghiệp tham gia.
  3. Mua lại doanh nghiệp: Việc một doanh nghiệp trực tiếp hoặc gián tiếp thâu tóm trên 50% vốn điều lệ, trên 50% cổ phần biểu quyết hoặc trên 50% tài sản nhằm giành quyền kiểm soát, chi phối doanh nghiệp mục tiêu.
  4. Liên doanh giữa các doanh nghiệp: Việc hai hoặc nhiều doanh nghiệp cùng góp vốn thành lập một pháp nhân mới để chia sẻ quyền quản lý, điều hành và phân chia lợi nhuận.
  5. Kiểm soát tập trung kinh tế: Hệ thống cơ chế pháp lý gồm ngưỡng thông báo, quy trình thẩm định sơ bộ, thẩm định chính thức và các chế tài xử lý nhằm bảo vệ trật tự cạnh tranh lành mạnh.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được thu thập đa tầng, bao gồm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật thực định (Luật Cạnh tranh 2018, Nghị định 35/2020/NĐ-CP, Nghị định 75/2019/NĐ-CP, Luật Doanh nghiệp 2020, Luật Đầu tư 2020), các báo cáo chuyên đề của Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng, cơ sở dữ liệu từ Diễn đàn M&A Việt Nam và báo cáo tài chính công khai của các tập đoàn kinh tế.

Về cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu, nghiên cứu tiến hành khảo sát chuyên sâu 15 thương vụ tập trung kinh tế trọng điểm trong mốc thời gian 2016 - 2020. Tác giả sử dụng phương pháp chọn mẫu phi xác suất có chủ đích (purposive sampling) nhằm chọn lọc các giao dịch có giá trị quy mô lớn từ 800 triệu USD đến hàng nghìn tỷ đồng, đại diện cho đầy đủ các cấu trúc tập trung theo chiều ngang, chiều dọc và tập trung hỗn hợp trong các lĩnh vực bán lẻ, ngân hàng, công nghiệp ô tô và thực phẩm.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích luật học thực chứng kết hợp so sánh luật quốc tế (đối chiếu quy định của Việt Nam với Singapore, Nhật Bản, Hoa Kỳ, EU) xuất phát từ bản chất liên ngành của pháp luật cạnh tranh. Việc phối hợp giữa phương pháp diễn giải quy phạm và thống kê định lượng giúp đánh giá chính xác tính tương thích, tính khả thi của các điều khoản pháp lý trong việc kiểm soát các giao dịch xuyên biên giới phức tạp.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, thị trường tập trung kinh tế tại Việt Nam có sự tham gia áp đảo của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), đặc biệt trong các ngành hàng tiêu dùng và bán lẻ. Điển hình trong năm 2016, thương vụ M&A trong ngành bán lẻ chiếm tới 38,46% tổng giá trị toàn thị trường với sự xuất hiện của các tập đoàn từ Thái Lan, Hàn Quốc và Nhật Bản. Tỷ trọng giao dịch có yếu tố nước ngoài chiếm hơn 70% tổng quy mô giao dịch giá trị cao, đặt ra yêu cầu mở rộng thẩm quyền tài phán đối với các hành vi xác lập quyền sở hữu bên ngoài lãnh thổ nhưng tạo ra hệ quả tiêu cực trong nước.

Thứ hai, việc thay đổi căn bản tiêu chí kiểm soát từ mức trần thị phần kết hợp trên 50% theo Luật Cạnh tranh 2004 sang đánh giá tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể theo Luật Cạnh tranh 2018 đã tháo gỡ điểm nghẽn cho thị trường. Quy định thiết lập ngưỡng an toàn trong giai đoạn thẩm định sơ bộ đối với các giao dịch có thị phần kết hợp dưới 20%, hoặc thị trường có chỉ số HHI dưới 1800 điểm, hoặc mức biến động delta HHI dưới 100 điểm đã giúp phân loại chính xác, giải phóng hơn 75% số lượng hồ sơ không có nguy cơ gây hại cho cạnh tranh.

Thứ ba, khung chế tài xử phạt vi phạm hành chính tại Nghị định 75/2019/NĐ-CP đã tạo lập tính răn đe vượt trội. Cụ thể, mức phạt tiền được xác định từ 1% đến 5% tổng doanh thu trên thị trường liên quan trong năm tài chính liền kề đối với hành vi không thực hiện nghĩa vụ thông báo hoặc thực hiện giao dịch bị cấm. Đối với các đơn vị có doanh thu bằng không, mức phạt ấn định từ 100 triệu đến 200 triệu đồng, đồng thời áp dụng các biện pháp tái cấu trúc cấu trúc thị trường nghiêm ngặt như buộc chia tách doanh nghiệp hoặc bán lại phần vốn góp.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi dẫn đến sự chuyển biến tích cực trong việc kiểm soát tập trung kinh tế là việc nội luật hóa các cam kết quốc tế thế hệ mới, tiêu biểu như Chương 16 Hiệp định CPTPP và Chương 12 Hiệp định EVFTA. Cơ quan quản lý cạnh tranh không còn xem thị phần là yếu tố tĩnh mang tính quyết định tuyệt đối, mà chuyển sang phân tích động thái thị trường, rào cản gia nhập ngành và năng lực gia tăng giá bán của doanh nghiệp sau khi sáp nhập.

Về phương diện trực quan hóa dữ liệu học thuật, các kết quả nghiên cứu có thể được mô hình hóa hiệu quả qua hệ thống biểu đồ cột thể hiện biến động giá trị M&A giai đoạn 2016 - 2020 (đạt đỉnh 10,2 tỷ USD năm 2017, đạt 7,2 tỷ USD năm 2019 và suy giảm còn 3,5 tỷ USD năm 2020 do dịch bệnh), kết hợp bảng ma trận so sánh 4 nhóm tiêu chí thẩm định giữa hai thời kỳ lập pháp. So sánh với các mô hình tại Singapore và Nhật Bản, cơ chế một cửa thông qua việc hợp nhất Cơ quan Quản lý cạnh tranh và Hội đồng Cạnh tranh thành Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia đã giúp rút ngắn thời gian xử lý thủ tục, tuy nhiên thực tế vẫn ghi nhận độ trễ từ 15 đến 30 ngày trong khâu tham vấn dữ liệu giữa các bộ ngành chuyên môn.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao hiệu lực thực thi và hoàn thiện khung pháp luật kiểm soát tập trung kinh tế, tác giả đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

Thứ nhất, ban hành thông tư hướng dẫn chi tiết tiêu chí xác định quyền kiểm soát, chi phối doanh nghiệp: Bộ Công Thương cần chủ trì xây dựng văn bản hướng dẫn thi hành Nghị định 35/2020/NĐ-CP trước quý IV năm 2022, định lượng rõ ràng các quyền phủ quyết và quyền bổ nhiệm nhân sự chủ chốt tương đương tỷ lệ sở hữu trên 50% vốn điều lệ, bảo đảm giảm thiểu 100% sự mơ hồ trong việc xác định đối tượng mua lại doanh nghiệp.

Thứ hai, thiết lập hệ thống cơ sở dữ liệu chỉ số HHI chuẩn hóa cho các ngành kinh tế trọng điểm: Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia cần hoàn thiện bảng tính chỉ số HHI cho 10 lĩnh vực có mức độ tập trung cao (ngân hàng, bán lẻ, viễn thông, hàng không) trong giai đoạn 2022 - 2023, giúp cố định thời hạn thẩm định sơ bộ chuẩn xác trong 30 ngày và thẩm định chính thức trong 90 ngày theo đúng quy định tại Điều 36 và Điều 37 Luật Cạnh tranh 2018.

Thứ ba, chuẩn hóa cơ chế chia sẻ thông tin liên ngành và giám sát giao dịch xuyên biên giới: Chính phủ cần ban hành quy chế phối hợp số hóa giữa Bộ Tư pháp, Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia trước năm 2024, rút ngắn 50% thời gian xác minh báo cáo tài chính trong 02 năm tài chính liền kề của các doanh nghiệp tham gia giao dịch.

Thứ tư, áp dụng linh hoạt các biện pháp khắc phục hành vi và cấu trúc: Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia cần đẩy mạnh việc áp dụng các điều kiện khắc phục hành vi theo Điều 42 Luật Cạnh tranh 2018 (như cam kết không tăng giá bán, duy trì nguồn cung ứng) song song với mức phạt từ 1% đến 5% doanh thu, tạo điều kiện cho các thương vụ tích cực phát huy hiệu quả theo quy mô mà không làm triệt tiêu cạnh tranh.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị ứng dụng thiết thực cho 4 nhóm đối tượng chuyên môn:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước và cán bộ thực thi pháp luật cạnh tranh: Cán bộ thẩm định tại Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia và Bộ Công Thương có thể khai thác các phân tích thực chứng và khung đánh giá chỉ số HHI để nâng cao chất lượng thẩm định hồ sơ, giảm thiểu nguy cơ khiếu nại tố tụng.

  2. Đội ngũ luật sư và chuyên gia tư vấn thương vụ M&A: Các công ty luật chuyên nghiệp sử dụng tài liệu làm cẩm nang pháp lý để đánh giá ngưỡng thông báo bắt buộc, thiết kế cấu trúc giao dịch an toàn và xây dựng phương án giải trình kinh tế khi tham gia thẩm định chính thức.

  3. Hội đồng quản trị và ban điều hành doanh nghiệp: Lãnh đạo các tập đoàn kinh tế nắm vững ranh giới giữa tập trung kinh tế hợp pháp và hành vi bị cấm, từ đó chủ động phòng ngừa mức xử phạt hành chính từ 1% đến 5% tổng doanh thu và bảo đảm tính hợp pháp cho kế hoạch mở rộng thị phần.

  4. Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học ngành Luật Kinh tế: Công trình cung cấp hệ thống tài liệu tham khảo chuẩn mực, kết hợp nhuần nhuyễn giữa phương pháp phân tích quy phạm và mô hình kinh tế lượng phục vụ công tác giảng dạy và nghiên cứu chuyên sâu.

Câu hỏi thường gặp

  1. Khi nào doanh nghiệp bắt buộc phải thực hiện thủ tục thông báo tập trung kinh tế? Doanh nghiệp phải nộp hồ sơ thông báo trước khi tiến hành giao dịch nếu chạm một trong các ngưỡng luật định tại Nghị định 35/2020/NĐ-CP, bao gồm: tổng tài sản hoặc tổng doanh thu tại Việt Nam từ 3.000 tỷ đồng trở lên, giá trị giao dịch từ 1.000 tỷ đồng trở lên, hoặc thị phần kết hợp từ 20% trở lên trên thị trường liên quan.

  2. Thời hạn thẩm định hồ sơ tập trung kinh tế theo Luật Cạnh tranh 2018 diễn ra trong bao lâu? Theo Điều 36 và Điều 37 Luật Cạnh tranh 2018, thời hạn thẩm định sơ bộ là 30 ngày kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ hợp lệ. Nếu phải chuyển sang giai đoạn thẩm định chính thức, thời hạn xử lý là 90 ngày và có thể gia hạn tối đa không quá 60 ngày đối với các thương vụ có tính chất phức tạp.

  3. Các giao dịch sáp nhập diễn ra ngoài lãnh thổ Việt Nam có phải thông báo không? Có. Căn cứ Điều 2 Luật Cạnh tranh 2018, mọi hành vi tập trung kinh tế thực hiện ngoài lãnh thổ Việt Nam nhưng gây tác động hoặc có khả năng gây tác động hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể đến thị trường Việt Nam đều bắt buộc phải tuân thủ quy trình thông báo và thẩm định theo quy định.

  4. Mức xử phạt hành chính đối với hành vi không thực hiện nghĩa vụ thông báo là bao nhiêu? Căn cứ Điều 14 Nghị định 75/2019/NĐ-CP, doanh nghiệp có hành vi không thông báo tập trung kinh tế khi thuộc diện bắt buộc sẽ bị xử phạt tiền từ 1% đến 5% tổng doanh thu trên thị trường liên quan trong năm tài chính liền kề trước năm thực hiện hành vi vi phạm.

  5. Chỉ số Herfindahl-Hirschman (HHI) được tính toán và áp dụng như thế nào? Chỉ số HHI được tính bằng tổng bình phương thị phần của tất cả các doanh nghiệp trên thị trường liên quan. Trong thẩm định cạnh tranh, nếu thị trường sau giao dịch có chỉ số HHI dưới 1800 điểm hoặc mức thay đổi delta HHI dưới 100 điểm, giao dịch được xếp vào nhóm an toàn và được phép thực hiện mà không cần thẩm định chính thức.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn kiểm soát tập trung kinh tế theo tinh thần tiến bộ của Luật Cạnh tranh năm 2018.
  • Nghiên cứu làm rõ bức tranh thực chứng của thị trường M&A Việt Nam giai đoạn 2016 - 2020 với quy mô dao động từ 3,5 đến 10,2 tỷ USD, khẳng định vai trò điều tiết thiết yếu của Nhà nước.
  • Công trình chứng minh tính ưu việt của việc áp dụng ngưỡng an toàn định lượng thông qua chỉ số HHI dưới 1800 điểm và thị phần kết hợp dưới 20% trong quy trình thẩm định sơ bộ.
  • Đề xuất đồng bộ 4 nhóm giải pháp có tính hành động cao, xác lập lộ trình hoàn thiện thể chế và số hóa cơ chế liên ngành giai đoạn 2022 - 2025.
  • Kêu góp các doanh nghiệp và đơn vị tư vấn chủ động rà soát nghĩa vụ pháp lý, chuyển đổi tư duy tuân thủ để tối ưu hóa hiệu quả kinh tế và kiến tạo môi trường cạnh tranh bền vững.