Chương I: Những vẫn đề chung về tập trung kinh tế và quy định pháp luật kiếm soát tập trung kinh tế Chương 2: Thực trạng áp dụng quy định pháp luật và đề xuất hoàn thiện pháp luật | kiểm soát tập trung kinh tế tại Việt Nam. - | CHUONG 1: NHUNG VAN DE CHUNG VE TAP TRUNG KINH TE VA QUY DINH PHAP LUAT KIEM SOAT TAP TRUNG KINH TE 1.1 Cơ sở lý luận về tập trung kinh tế và kiểm soát tập trung kinh tế 1.1 Khái niệm và đặc điểm của tập trung kinh tế 1.1Khái niệm tập trung kinh tế Theo như Luật mẫu cạnh tranh của UNCTAD da không đưa ra khái niệm về TTKT mà lại sử dụng thuật ngữ “sáp nhập và mua lạ?” là trường hợp hai hay nhiều doanh nghiệp thực hiện hoạt động hợp pháp theo đó các doanh nghiệp hợp nhất quyền sở hữu đối với tài sản mà trước kia được kiêm soát riêng biệt. Những trường hợp như nói trên bao gồm các hoạt động thâu tóm, liên doanh và các hình thức giành quyền kiểm soát khác, bao gồm cả việc một cá nhân kiêm nhiệm chức vụ quản lý ở nhiều đoanh nghiệp khác nhau”. Pháp luật cạnh tranh (77) ở các quốc gia trên thế giới cũng quy định về TTKT một cách đa dạng, PLCT tại Singapore đã không đưa ra một khái niệm hoàn chỉnh về TTKT.
Thay vào đó, TTKT được hiểu là các hình thức sáp nhập, thâu tóm tài sản và vốn góp, việc thâu tóm các cô phần thiểu số, thành lập liên doanh hoặc các hành vi khác dẫn đến việc sáp nhập. Những hành vi này chỉ bị cắm nếu các giao địch đó gây ra hoặc có khả năng gây ra sự hạn chế cạnh tranh một cách đáng ké (substantial lessening of competition) trén thi Ÿ Tổ chức Thương mại và phát triển Liên Hợp Quốc (2010). Luật mẫu về cạnh tranh, Loạt công trình nghiên cứu của UNCTAD về các vận đề được đề cập trong luật và chính sách cạnh tranh. Link truy cap: https://unctad.org/en/Docs/tdrbpconf7d8_en.
trường Singapore”, cac giao dich TTKT sé khéng bi cam khi Uỷ ban cạnh tranh Singapore” xác định răng lợi ích có được từ TTKT lớn hơn tác hại mà nó mang lại hoặc khi Bộ trưởng Bộ Công Thương của Singapore ra quyết định miễn trừ đối với một vụ TTKT cụ thê vi lợi ích công. PLCT của Nhật Bản cũng không có khái niệm như thế nào được xem là TTKT mà lại quy định về hành vi TTKT trong đạo luật Chống độc quyên, bao gồm: mua cô phần, ban giám đốc chung, sáp nhập, mua lại, tách doanh nghiệp. Đạo luật này điều chỉnh các hành vi TTKT dưới hai góc độ: (1) hạn chế các hành vi TTKT gây hạn chế nghiêm trọng tới cạnh tranh; (ii) ngăn cản các hành vi TTKT nhằm hạn chế TTKT quá mức. Năm 2007, Cục Quản lý cạnh tranh và Uỷ ban thương mại lành mạnh Nhật Bản (Japan Fair Trade C ofmmission — SJƑTC”) đã ban hành “Hướng dân về việc áp dụng đạo luật chống độc quyền liên quan tới TIKT”, theo đó, có ba bước để xem một hành ví TTKT có bị cắm hay không: (1) xác định hành vị TTKT có liên quan (có hay không một trong các hình thức TTKT); (1) xác định thị trường liên quan (hành vì TTKT có diễn ra trong cùng một thị trường cụ thé hay khéng?); (iii) đánh giá tác động của hành vi TTKT đối với cạnh tranh (liệu hành vì này có gây hạn chế nghiêm trọng đối với cạnh tranh?).
PLCT tại Việt Nam cũng quy định về TTKT tương tự như quy định của phần lớn các nước trên thể giới, không đưa ra khái niệm mang tính khái quát chung dé định nghĩa về TTKT mà chỉ liệt kê các hành vi được xem là TTKT. Cụ thể, theo quy định của LCT 2018 thì TTKT bao gồm các hình thức sau đây: (¡) sáp nhập doanh nghiệp; (ii) hợp nhất doanh nghiệp; (ii) mua lại đoanh nghiệp: (iv) liên doanh giữa các doanh nghiệp; (v) các hành vị TTKTT khác theo quy định của pháp luật, từng hành vi trên được định nghĩa cụ thể tại Khoản 2, 3, 4, 5 Điều 29 LCT 2018. Có thể nhìn nhận, tiếp cận khái niệm về TTKT có rất nhiều cách thức khác nhau, tác giả của Luận văn này lựa chọn tiếp cận khái mệm TTKTT dưới góc độ pháp luật như là một hành vi pháp lý. Theo đó, qua việc nghiên cứu quy định pháp luật vả ° Lưu Hương Ly (2011).
Luật cạnh tranh của Singapore và những kinh nghiệm của Việt Nam. Tạp chi Luật học số 03/2011, 69-76. ” Competition Commission of Singapore — “CCS”. PLCT Nhdt Ban.
Tap chí Nhà nước và pháp luật số 08/2010, 59-73, * Luật Cạnh tranh 2018 số 23/2018/QH14 ngày 12/06/2018 (gọi tắt là LCT 2018), Khoản 1 Điều 29, 10 khoa học pháp lý ở các nước trên thế giới, đặc biệt là của Nhật Bản và Singapore, có thê thấy TTKT được tiếp cận chủ yếu từ khía cạnh giành quyền kiếm soát, quyền quản lý phát sinh từ quyền sở hữu tài sản, phần vốn góp. Điều này thế hiện thông qua bản chất của hành vi TTKT như sau: Thứ nhất, bản chất của TTKT là một hiện tượng binh thường trong hoạt động kinh doanh và tự thân TTKT là hoàn toàn hợp pháp theo quy định pháp luật về doanh nghiệp, đầu tư, chứng khoán. TTKT không phải là hành vi hạn chế cạnh tranh (HCCT), hành vi này chỉ có nguy cơ tiềm năng gây ra tác động HCCT một cách đáng kế cho thị trường. Vì vậy, nhà nước sẽ phải can thiệp và cắm đoán khi có đầy đủ cơ sở khăng định TTKT gây tác động hoặc có khả năng gây tác động cho cạnh tranh.
Thứ hai, bản chất của hành vi TTKT chính là tập trung quyền lực thị trường (market power), các doanh nghiệp có thế có sức mạnh thị trường đáng kế sau khi thực hiện TTKT - ở một mức độ đủ để giúp doanh nghiệp không cần phải đối mặt với áp lực cạnh tranh tử các đối thủ khác trên thị trường hoặc chịu sức ép tử việc g1a nhập thị trường của các đối thủ tiềm năng. Vì vậy, doanh nghiệp có thê hành động một cách tương đối độc lập với đối thủ cạnh tranh cũng như là với người tiêu đùng và có khả năng tăng lợi nhuận từ việc tăng và duy trì mức giá cao hơn mức giá được xác định trong thị trường cạnh tranh hoặc từ việc hạn chế sản lượng hay chất lượng dưới mức của thị trường cạnh tranh'?. Thứ ba, việc xem xét bản chất của hành vi TTKT nhất thiết cần phải xác định được sức mạnh thị trường mà TTKT có thê tạo ra và tác động của nó. Sức mạnh thị trường thông thường tiếp cận đưới hai góc độ bao gồm sức mạnh về giá và sức mạnh loại trừ.
Sức mạnh về giá là khả năng có thê gia tăng lợi nhuận từ việc tăng và duy trì mức giá cao hơn mức giá cạnh tranh hoặc khả năng kiểm soát, hạn chế sản lượng đề tăng giá'', Sức mạnh loại trừ là khả năng vượt trội trên thị trường để có thé thực hiện những hành vi ngăn cản, kìm hãm hay loại trừ đối thủ cạnh tranh, xâm hại '° Phùng Văn Thành (2012). Site manh thị trường đáng ké từ góc độ lý thuyết kinh tế đồn quy định cia PLCT. Bản tín Cạnh tranh và người tiêu dùng, số 36, tr.22, Phạm Trí Hùng, Hà Ngọc Anh (2014). Ban chất của tập trung kinh tẾ và kiểm soát tập trung kinh tế.
Tạp chí Khoa hoc phap ly (so 5/2014), tr. HH trực tiếp đến cấu trúc cạnh tranh và từ đó có thê tăng giá. Đây chính là lý do quan trọng được Cơ quan Quản lý cạnh tranh quan tâm khi tiễn hành kiểm soát các hành vi TTKT, nhằm xem xét liệu rằng các đoanh nghiệp sau khi TTKT có khả năng tạo ra vị trí thống lĩnh hoặc độc quyền với một sức mạnh đáng ké dé dé dang trục lợi từ khách hàng thông qua việc định một mức giá cao hơn mức cạnh tranh trước đó. Tóm lại, trên cơ sở tiếp cận từ khía cạnh giành quyền kiểm soát, quyền quản lý phát sinh từ quyền sở hữu tài sản, phần vốn góp, theo tác giả: Tập trung kinh tế là hành vi tập trung quyền lực thị trường dưới các hình thức thâu tóm trực tiếp, gián tiếp toàn bộ hoặc một phần tài sản, quyên, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác đủ để kiếm soát doanh nghiệp đó hoặc kết hợp toàn bộ hoặc một phân giữa các doanh nghiệp để cùng kiểm soát doanh nghiệp hình thành sau kết hợp.2Đặc điểm tập trung kinh tế Theo quy định của pháp luật Việt Nam, TTKT có đặc điểm pháp lý cơ bản sau: Thứ nhất, chủ thê thực hiện TTKT là các doanh nghiệp hoạt động độc lập trên thị trường”, hành vi hợp nhất, sáp nhập, liên đoanh hay mua lại.
chỉ xảy ra khi có nhiều doanh nghiệp cùng tham gia thực hiện. Đối chiếu các hành vi TTKT như quy định của LCT 2018 với pháp luật doanh nghiệp đề nhận thấy răng: chủ thể thực hiện hanh vi TTKT là các loại hình công ty, các hợp tác xã (/heo Luật hợp tác xã) và các cá nhân kinh doanh'? đã tồn tại và đang hoạt động một cách độc lập trên thị trường. Tuy nhiên, không phải mọi chủ thể là đối tượng áp dụng của Luật Cạnh tranh đều có thê tham gia vào các hành vi TTKT mà tuỳ thuộc vào từng hỉnh thức TTKT, các chủ thê tham gia sẽ phải đáp ứng điều kiện nhất định. Như trường hợp doanh nghiệp tư nhân có thể là đối tượng của mua bán doanh nghiệp nhưng không thẻ là chủ thế của hợp nhất, sáp nhập hay liên doanh giữa các doanh nghiệp'.
'* Hoàng Minh Chiến (2019), Kiểm soát tập trung kinh tế theo luật cạnh tranh 2018. Tạp chí Dân chủ & pháp luật số 3 (324)/2019, tr. '* Doanh nghiệp tư nhân không có tư cách pháp nhân nên không thê là nhà đầu tư thành lập, góp vốn mua cô phan, mua phân góp vôn và quản lý doanh nghiệp (điểm ä Khoản 2 Điều 17 Luật Doanh nghiệp 2020). Tại 12 Về cơ bản, các doanh nghiệp tham gia TTKT theo LCT 2018 là các đoanh nghiệp hoạt động trong cùng hoặc không củng thị trường liên quan (LCT 2004 chi điễu chỉnh đối với hành vì TTKT của những doanh nghiệp hoạt động trên cùng một thị trường liên quan).
Như vậy, việc có nhiều doanh nghiệp tham gia TTKT đã giúp phân biệt TTKT đưới góc độ pháp luật và TTKT đưới góc độ kinh tế - được hiểu là sự tăng trưởng nội sinh trên cơ sở tự mở rộng năng lực sản xuất, kinh doanh của mình.