Chương 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN 1. Tài sản Trong đời sống kinh tế - xã hội, nếu tài sản luôn được coi là điều kiện vật chất để duy trì các hoạt động trong lĩnh vực kinh tế và trong đời sống của con người thì sự tồn tại của các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ liên quan đến tài sản được coi là điều kiện cần thiết để giải quyết các tranh chấp có liên quan đến các loại tài sản đó. Bộ luật Dân sự 1804 của Pháp - một công trình pháp điển hóa hiện đại đầu tiên trên thế giới, đã không đưa ra một định nghĩa cụ thể nào về tài sản. Nhưng theo các đặc tính căn bản của pháp luật La Mã - Đức về việc giải thích các quy tắc pháp lý hay khái niệm pháp lý, người ta có thể hiểu được rằng: tài sản nói trong Bộ luật này bao gồm hai loại là bất động sản và động sản, mà trong đó bất động sản được chia thành bất động sản do tính chất, bất động sản do mục đích sử dụng và bất động sản do có đối tượng gắn liền với nó; và động sản bao gồm động sản do tính chất và động sản do luật định.
Cả quyển thứ hai của Bộ luật này đã toát lên rằng, tài sản bao gồm vật, các vật quyền và các tố quyền nhằm đòi lại tài sản. Tuy nhiên, trong Bộ luật Dân sự của Pháp có sự phân biệt giữa tài sản và sản nghiệp nhưng khái niệm sản nghiệp không được nhắc tới ở luật thực định mà chỉ được nói tới trong các học thuyết. Nó là một tập hợp các tài sản có và tài sản nợ, có nghĩa là một hệ thống các quan hệ về tài sản thuộc một ai đó [26]. Dựa vào hình mẫu của Bộ luật Dân sự Pháp, Bộ luật Dân sự của Quécbec (Canada) xác định: "Tài sản, hoặc hữu hình hoặc vô hình, được chia thành bất động sản và động sản" (Điều 899).
Căn cứ vào các quy định này, 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tài sản bao gồm bốn loại chính: bất động sản hữu hình, động sản hữu hình, bất động sản vô hình, động sản vô hình. Ở đây, tài sản hữu hình là các vật chất liệu, còn tài sản vô hình liên quan tới các quyền. Các luật gia Canada cho rằng Quyển thứ hai của Bộ luật Dân sự này nói về luật tài sản mà chủ yếu là các quyền đối với vật chất liệu, tức là các vật quyền. Bộ luật Dân sự Đức năm 1900 bằng một kỹ thuật pháp điển hóa khác với hình mẫu của Pháp đã tách những vấn đề pháp lý chung nhất của luật dân sự để tập hợp trong Quyển I của Bộ luật Dân sự này về phần chung, bao gồm 240 điều mà trong đó có một chương nói về vật.
Tiếp đó Bộ luật này còn chứa đựng Quyển III về luật tài sản quy định chi tiết các vật quyền. Tuy không có định nghĩa cụ thể về tài sản trong Bộ luật Dân sự này, nhưng người ta có thể hiểu rằng, tài sản theo nghĩa pháp lý không chỉ là vật chất liệu, mà chủ yếu là các quyền [26]. Bộ luật Dân sự 1896 của Nhật Bản đã cấu tạo một chương riêng trong Quyển I nói về vật và dành Quyển II nói về các vật quyền. Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng, các nước thuộc họ pháp luật La Mã - Đức dù tiếp nhận luật thống nhất ở Châu Âu lục địa bằng cách nào đi nữa, thì vẫn có quan niệm: vật chất không phải là tiêu chuẩn tối cao của luật tài sản, mà nói tới luật tài sản là nói tới các vật quyền.
Các luật gia Hoa Kỳ cho rằng, tài sản là các quyền giữa mọi người có liên quan tới vật, hay nói cách khác, bao gồm một hệ thống các quyền được thừa nhận về mặt pháp lý do ai đó thủ đắc trong mối liên hệ với những người khác mà liên quan tới vật. Bộ luật Dân sự Nga, Điều 128 quy định: "Các đối tượng của Luật dân sự bao gồm toàn bộ các vật, kể cả tiền và các giấy tờ trị giá bằng tiền, các tài sản khác trong đó có quyền tài sản, các công việc và dịch vụ, thông tin, kết quả của các hoạt động trí óc, kể cả các quyền sở hữu trí tuệ và các tài sản vô hình". Điều 132 khoản 1 quy định: "Doanh nghiệp với tư cách là một tổng thể tài 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sản cũng được coi là bất động sản". Quy định này thể hiện quan điểm theo đó bất động sản là những tài sản quý giá nhất [42, tr.
Trong Bộ luật Dân sự Việt Nam 2005, Điều 163 quy định: "Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá, quyền tài sản". Trong đó, quyền tài sản được định nghĩa tại Điều 181: "Là quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao lưu dân sự, kể cả quyền sở hữu trí tuệ". Các điều từ Điều 164 đến Điều 173 quy định về các vấn đề liên quan tới quyền sở hữu đối với tài sản. Như vậy, tài sản - với tư cách là khách thể của quan hệ pháp luật về sở hữu, nó có thể là đối tượng của thế giới vật chất hoặc là kết quả của lao động sáng tạo tinh thần.
Theo lý luận chung, vật là bộ phận của thế giới vật chất, nhưng không phải mọi vật của thế giới vật chất đều được coi là vật (tài sản) trong quan hệ pháp luật dân sự. Xét theo tiêu chuẩn lý học thì vật trước hết là một thể tồn tại xác định được bằng những đơn vị đo lường về khối lượng, hình thức, tính chất hóa, lý, sinh và những thuộc tính khác của vật trong mối quan hệ tương quan với thế giới khách quan cả về mặt tự nhiên và xã hội. Xét theo tiêu chuẩn pháp luật dân sự thì vật đó phải tồn tại, có thực, con người phải chiếm hữu được, chi phối được, vật đó chắc chắn hình thành trong tương lai xác định được và phải sử dụng được trong sản xuất kinh doanh, sinh hoạt tiêu dùng nhằm đáp ứng được nhu cầu vật chất, tinh thần của con người. Còn xét theo chế độ pháp lý thì vật được chia ra làm ba loại là vật cấm lưu thông, vật hạn chế lưu thông và vật tự do lưu thông,… Tiền và giấy tờ có giá cũng được xác định là những loại tài sản có tính chất đặc biệt.
Pháp luật Việt Nam coi tiền là một loại tài sản riêng biệt. Loại tài sản này có những đặc điểm pháp lý khác với vật, cụ thể: - Đối với tiền thì chúng ta không thể trực tiếp khai thác công dụng hữu ích từ chính đồng tiền đó. Đối với vật thì chúng ta có thể khai thác được như dùng bút để viết, dùng xe đạp để đi lại,… Tiền thực hiện ba chức năng chính 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com là: công cụ thanh toán đa năng, công cụ tích lũy tài sản và công cụ định giá các loại tài sản khác. - Tiền do Nhà nước độc quyền tạo ra (phát hành), còn các vật thông thường có thể do rất nhiều chủ thể khác tạo ra.
Việc phát hành tiền được coi là một trong những biểu hiện chủ quyền của mỗi quốc gia. - Tiền được xác định số lượng thông qua mệnh giá của nó, còn vật lại được xác định số lượng bằng đơn vị đo lường thông dụng. - Chủ sở hữu tiền không được tiêu hủy tiền (không được xé, đốt, sửa chữa, thay đổi hình dạng, kích thước, làm giả,…), còn chủ sở hữu vật lại được toàn quyền hủy vật thuộc quyền sở hữu của mình. Đối với giấy tờ có giá, theo nghĩa rộng được hiểu là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ, trong đó xác nhận quyền tài sản của một chủ thể nhất định (tổ chức, cá nhân) xét trong quan hệ pháp lý với chủ thể khác [79, tr.
Tuy nhiên, trong số giấy tờ minh chứng cho quyền tài sản đó, có một số giấy tờ đặc biệt có thể chuyển giao được, ai đánh mất là mất quyền, ai có nó là có quyền, thì giấy tờ này mới coi là giấy tờ có giá với tư cách là một loại tài sản trong quan hệ pháp luật dân sự. Theo cách hiểu này thì giấy tờ có giá có những đặc điểm sau: Thứ nhất, xét về hình thức, giấy tờ có giá là một chứng chỉ được lập theo hình thức, trình tự luật định. Thứ hai, nội dung thể hiện trên giấy tờ có giá thể hiện quyền tài sản, giá của giấy tờ có giá là giá trị quyền tài sản và quyền này được pháp luật bảo vệ. Thứ ba, giấy tờ có giá có tính thanh toán và là một công cụ có thể chuyển nhượng với điều kiện chuyển nhượng toàn bộ một lần, việc chuyển nhượng một phần giấy tờ có giá là vô hiệu.
Ngoài ra, có thể kể thêm các đặc điểm khác của giấy tờ có giá như tính có thời hạn, tính có thể đưa ra yêu cầu, tính rủi ro,… 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Như vậy, khái niệm về tài sản trong Bộ luật Dân sự năm 2005 mang tính chất liệt kê. Bởi vì pháp luật thường đi sau sự phát triển của thực tiễn nên việc liệt kê có thể sẽ không đầy đủ hoặc không theo kịp sự phát triển của khoa học và đời sống. Ngày nay, tài sản có thể được hiểu là bất cứ thứ gì có giá trị nằm trong sự chiếm hữu của một chủ thể, một khái niệm rộng và không có giới hạn, luôn được bồi đắp thêm bởi những giá trị mới mà con người nhận thức ra. Hợp đồng Định chế hợp đồng bắt nguồn từ luật La Mã và sau này làm các quốc gia Châu Âu trong hệ thống luật dân sự đã bổ sung và nâng cao cho nền pháp chế Châu Âu lục địa.
Theo luật La Mã, hợp đồng (Contratus) được coi là căn cứ làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ pháp luật với hai điều kiện không thể thiếu là: (1) Phải có sự thỏa thuận (consensus), tức là có sự thống nhất giữa các bên kết ước và bình đẳng về pháp lý; (2) Phải có mục đích và căn cứ pháp lý nhất định (causa) để các bên cùng hướng tới. Và, hợp đồng là phương tiện để đạt được các mục đích đó.