Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ HỎI CUNG BỊ CAN 1.Khái niệm và nhiệm vụ hỏi cung bị can 1.1 Khái niệm hỏi cung bị can Quá trình giải quyết vụ án hình sự là một quá trình liên tục gồm nhiều hoạt động có quan hệ chặt chẽ với nhau. Trong đó, giai đoạn điều tra đóng vai trò quan trọng nhằm tìm kiếm chứng cứ, chứng minh tội phạm, người phạm tội, xác định thiệt hại do tội phạm gây ra mà trong đó hoạt động hỏi cung bị can là một biện pháp thu thập chứng cứ quan trọng. Điều 131 Bộ luật TTHS năm 2003 quy định về việc hỏi cung:“Việc hỏi cung bị can phải do Điều tra viên tiến hành ngay sau khi có quyết định khởi tố bị can. Có thể hỏi cung bị can tại nơi tiến hành điều tra hoặc tại nơi ở của người đó” [30].
Như vậy, có thể thấy rằng Bộ luật TTHS đã không có điều luật cụ thể khái niệm về hỏi cung bị can. Theo từ điển Luật học đưa ra định nghĩa: “Hỏi cung bị can là hoạt động tố tụng hình sự do Điều tra viên tiến hành khi có quyết định khởi tố bị can để lấy lời khai về các tình tiết của vụ án hình sự”. Hay trong cuốn sách chuyên khảo chiến thuật điều tra hình sự của Phó giáo sư, tiến sỹ Nguyễn Huy Thuật đã đưa ra định nghĩa: hỏi cung bị can là một biện pháp điều tra hình sự do những người theo luật định tiến hành nhằm mục đích thu thập theo trình tự TTHS lời khai của bị can về vụ án, hành vi và mức độ phạm tội của bị can và đồng phạm và những tin tức, tài liệu khác mà bị can biết có ý nghĩa đối với hoạt động điều tra và phòng ngừa tội phạm [22, tr. Trong giáo trình tâm lí học tư pháp do tác giả Đặng Thanh Nga chủ biên có viết: Hoạt động hỏi cung bị can là một dạng hoạt động điều tra sử dụng các phương pháp tác động tâm lí đến tư duy, tình cảm, ý chí của bị can trong khuôn khổ pháp luật thông qua giao tiếp bằng ngôn ngữ và các phương 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com pháp biểu cảm khác như ánh mắt, cử chỉ, nét mặt giữa Điều tra viên với bị can nhằm thu thập chứng cứ do họ đưa ra góp phần giải quyết vụ án hình sự [13, tr.
Theo đó, có thể thấy, hỏi cung bị can là cuộc đấu tranh quyết liệt giữa bị can và ĐTV trong khuôn khổ pháp luật. Dưới góc độ tâm lí học, hỏi cung bị can là được hiểu là quá trinh nhận thức gián tiếp của CQĐT, Điều tra viên về vụ án thông qua tài liệu, thông tin mà bị can cung cấp. Nói cách khác, hoạt động hỏi cung là một dạng hoạt động phức tạp gồm hai quá trình độc lập tương đối: Quá trình khai thác thông tin và quá trình nhận thức đánh giá thông tin của Điều tra viên. Như vậy, hỏi cung bị can được xem xét, nghiên cứu ở nhiều khí cạnh khác nhau, mặc dù đưa ra những nhận định khác nhau về hỏi cung bị can nhưng trong các quan điểm đó cho thấy vị trí của hỏi cung bị can là một trong những biện pháp điều tra cơ bản của giai đoạn điều tra vụ án hình sự.
Mục đích của hỏi cung bị can là thu thập và mô tả theo trình tự TTHS thật đầy đủ, chính xác, khách quan lời khai của bị can về vụ án hình sự, hành vi phạm tội của bị can cùng đồng bọn và những tin tức, tài liệu khác mà bị can biết có ý nghĩa đối với hoạt động điều tra và phòng ngừa tội phạm. Đặc biệt chú ý, trong quá trình hỏi cung cần kiểm tra những tài liệu là cơ sở để khởi tố bị can, làm rõ động cơ và mục đích phạm tội, những nguyên nhân và điều kiện làm phát sinh tội phạm. Thực tiễn điều tra cho thấy, hỏi cung bị can là một biện pháp khá phức tạp và nhạy cảm. Bởi để hỏi cung mang lại hiệu quả, thu được chứng cứ có giá trị chứng minh cao thì ngoài việc hoạt động này phải được tiến hành theo đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật TTHS quy định, còn cần phải có sự kết hợp với các biện pháp nghiệp vụ, tác động trực tiếp đến tâm lý bị can trong quá trình hỏi cung.
Việc tác động tâm lý bị can, nắm bắt được tâm lý bị can giúp cho quá trình hỏi cung đạt được hiệu quả cao, nhằm thu được lời khai đúng và đầy đủ. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Vì vậy, từ việc nghiên cứu những quy định của Bộ luật TTHS, tác giả đưa ra khái niệm về hỏi cung bị can như sau: “Hỏi cung bị can là một biện pháp điều tra trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự do Điều tra viên và những người có thẩm quyền khác tiến hành sau khi có quyết định khởi tố bị can nhằm mục đích thu thập các tình tiết về nội dung vụ án, hành vi phạm tội của bị can và các tình tiết khác có ý nghĩa cho việc giải quyết đúng đắn vụ án hình sự”. Nhiệm vụ của hỏi cung bị can Thứ nhất, thu thập chứng cứ, chứng minh tội phạm, người thực hiện hành vi phạm tội và các tình tiết khác có ý nghĩa cho việc giải quyết đúng đắng vụ án hình sự. Quá trình chứng minh trong TTHS là quá trình thu thập, kiểm tra, đánh giá và sử dụng chứng cứ.
Trong đó thu thập chứng cứ là giai đoạn đầu tiên có ý nghĩa đặc biệt quan trọng và không thể thiếu của quá trình chứng minh. Nếu không có thu thập chứng cứ, thì cũng không có kiểm tra, đánh giá và sử dụng chứng cứ. Điều đó lý giải tại sao vấn đề chứng cứ nói chung và vấn đề thu thập chứng cứ nói riêng luôn là một trong những mối quan tâm hàng đầu của các nhà lập pháp mỗi nước khi xây dựng Bộ luật TTHS. Thu thập chứng cứ là hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng nhằm tìm ra và thu giữ những sự kiện chứng minh hoặc những nguồn chứng cứ theo đúng trình tự, thủ tục luật định, để từ đó khai thác những sự kiện chứng minh.
Xét trên góc độ thông tin, thì phát hiện, thu thập chứng cứ là quá trình thu thập thông tin để làm căn cứ xác định sự thật của vụ án. Phát hiện, thu thập chứng cứ vừa là hoạt động mang tính khoa học, vừa mang tính pháp lý nên quá trình phát hiện, thu thập chứng cứ vừa phải quán triệt những nguyên tắc, quy luật của nhận thức, vừa phải bảo đảm tính pháp lý, hay nói cách khác là phải khách quan và phải tuân thủ đúng quy định về trình tự, thủ tục của Bộ luật TTHS. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Để thu thập chứng cứ trong giai đoạn, cơ quan có thẩm quyền được phép tiến hành nhiều biện pháp điều tra khác nhau, trong đó có biện pháp hỏi cung bị can. Pháp luật tố tụng hình sự quy định chủ thể, trình tự, thủ tục hỏi cung… nhằm đạt được mục đích là thu thập chứng cứ, chứng minh tội phạm, người thực hiện hành vi phạm tội và các tình tiết khác có ý nghĩa cho việc giải quyết đúng đắng vụ án hình sự.
Là chủ thể của tội phạm, bị can là chủ sở hữu một lượng thông tin tương đối lớn về vụ án. Hơn ai hết bị can là người biết rõ về toàn bộ quá trình chuẩn bị, thực hiện và che giấu hành vi phạm tội, những mục đích, động cơ đã thúc đẩy bị can phạm tội; những công cụ, phương tiện, thủ đoạn phạm tội, phương pháp đã được bị can sử dụng khi thực hiện hành vi phạm tội, những tài sản đã chiếm đoat được…Vì vậy, khi hỏi cung bị can, Điều tra viên cần áp dụng mọi biện pháp mà pháp luật cho phép để có thể thu thập được tất cả những thông tin mà bị can biết, có liên quan đến vụ án nhằm làm rõ nội dung vụ án, hành vi phạm tội của bị can, lập hồ sơ đề nghị xử lý đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Thứ hai, tôn trọng và bảo đảm quyền con người. Hiến pháp năm 2013 – văn bản có giá trị pháp lý cao nhất, lần đầu tiên đã quy định nguyên tắc về giới hạn quyền tại khoản 2, Điều 14: “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng” [29].
Ở nước ta, quyền con người luôn được tôn trọng và đảm bảo thực hiện. Tiếp tục đảm bảo quyền con người đã được ghi nhận tại các bản Hiến pháp trước đây và Hiến pháp hiện hành, Điều 4 Bộ luật TTHS năm 2003 quy định: “Khi tiến hành tố tụng, Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Chánh án, Phó Chánh án Tòa án, Thẩm phán, Hội thẩm trong phạm vi trách nhiệm của mình phải tôn trọng và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, thường xuyên kiểm tra 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tính hợp pháp và sự cần thiết của những biện pháp đã áp dụng, kịp thời hủy bỏ hoặc thay đổi những biện pháp đó, nếu xét thấy có vi phạm pháp luật hoặc không còn cần thiết nữa” [30]. Đồng thời, Hiến pháp năm 2013 khẳng định tại khoản 2 Điều 72 khẳng định:“Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” [29], do vậy bị can vẫn có đầy đủ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân mà các quyền này phải được tôn trọng và đảm bảo thực hiện đầy đủ. Do chưa được coi là có tội nên các cơ quan tiến hành tố tụng không được đối xử với bị can, bị cáo như người có tội, kể cả trường hợp họ bị áp dụng biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc nhất như tạm giam chẳng hạn .Để quyền con người được tôn trọng và đảm bảo thực sự, pháp luật TTHS đòi hỏi những chủ thể có thẩm quyền hỏi cung phải thực hiện trách nhiệm của mình trong phạm vi pháp luật quy định, không được làm tùy tiện, vượt khỏi phạm vi giới hạn của luật dẫn đến việc xâm phạm các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.