Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÁC TỘI PHẠM XÂM PHẠM HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP THEO LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM 1. Khái niệm và dấu hiệu pháp lý chung của các tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp theo luật hình sự Việt Nam 1. Khái niệm tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp Trước khi ban hành Bộ luật hình sự đầu tiên của nước ta vào năm 1985, một số hành vi xâm phạm hoạt động tư pháp đã được quy định trong các văn bản pháp luật đơn hành. Ví dụ, Luật số 103SL/L105 ngày 10/5/1957 quy đinh ̣ tại Điều 14 theo đó: “đố i với những người bi ̣bắ t , bị tạm giữ , bị tạm giam tuyê ̣t đố i nghiêm cấ m tra tấ n hoă ̣c dùng bấ t cứ nhu ̣c hiǹ h nào ”.
Pháp lệnh trừng trị các tội phản cách mạng ban hành ngày 30/10/1967 cũng có các quy đinh ̣ về các hành vi bao che tội phản cách mạng. Tương tự, Pháp lệnh trừng trị tội phạm xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa ban hành ngày 21/10/1970 cũng có quy định về việc xử lý các hành vi bao che cho người xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, việc quy định tội phạm xâm phạm hoạ t đô ̣ng tư pháp trước khi có Bộ luật hình sự đầu tiên nói chung còn tản mạn và không mang tính đồng bộ và không đề cập hết các khía cạnh và sự phức tạp của loại tội phạm này. Để khắc phục tình trạng này, đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống các hành vi xâm phạm đến hoạt động đúng đắ n của các cơ quan tư pháp, Bộ luật hình sự năm 1985 đã có một chương riêng ở Phần các tội phạm quy định về các tội xâm phạm hoạt động tư pháp.
Đó là chương X với 19 điều, từ Điều 230 đến Điều 248. Trong 19 điều luật này có 17 điều quy định 20 tội thuộc nhóm tội xâm phạm hoạt động tư pháp. BLHS 1999 quy định các tội xâm phạm hoạt động tư pháp tại chương XXII từ Điều 292 đến Điều 314. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp đã được quy định tại Chương X Bộ luật hình sự năm 1985 do yêu cầu của việc lành mạnh hoá hoạt động tư pháp, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và mọi công dân; đề phòng những hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn của những người tiến hành tố tụng trong các cơ quan tư pháp; cán bộ thi hành án trong cơ quan thi hành án; cảnh sát tư pháp, cảnh sát bảo vệ, cảnh sát dẫn giải, các trại tạm giam, trại giam và nhà tạm giữ.
Tuy nhiên, các tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà chủ thể là những người tiến hành tố tụng như: Thủ trưởng, Phó thủ trưởng cơ quan điều tra, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Chánh án, Phó chánh án Toà án, Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân và Thư ký Toà án; của Cảnh sát tư pháp hoặc của Chấp hành viên thực tiễn xét xử không nhiều. Không phải các tội phạm này không xảy ra trong thực tế mà là do việc điều tra chứng minh rất khó khăn. Có lẽ đây là một đặc điểm nổi bật nhất đối với các tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà chủ thể lại chính là những người trong các cơ quan tư pháp, có thẩm quyền trong hoạt động tư pháp. Ví dụ: Một Thẩm phán ra bản án trái pháp luật nhưng để chứng minh là họ cố ý thì không phải là đơn giản.
Bị can, bị cáo khai là mình bị bức cung, bị nhục hình nhưng việc xác định họ có bị bức cung, bị nhục hình hay không cũng rất khó, v. Cũng chính vì việc chứng minh khó, nên thực tiễn xét xử đối với loại tội phạm này ít bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Đây cũng là một vấn đề xã hội đang quan tâm. Chưa có một công trình điều tra tội phạm học nào, nhưng ai cũng thấy tội phạm ẩn trong lĩnh vực tham nhũng và trong lĩnh vực hoạt động tư pháp còn cao.
Có nhiều tội quy định trong chương các tội xâm phạm hoạt động tư pháp (Chương XXII) trên thực tế có xảy ra nhưng, thậm chí xảy ra nhiều nhưng rất ít bị phát hiện và bị truy cứu trách nhiệm hình sự. So với Chương X Bộ luật hình sự năm 1985 thì các tội xâm phạm hoạt động tư pháp quy định tại Chương XXII Bộ luật hình sự năm 1999 có nhiều sửa đổi, bổ sung. Một số hành vi trước đây chưa bị coi là tội phạm, thì Bộ luật hình sự năm 1999 quy định là tội phạm như: hành vi không truy cứu trách 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhiệm hình sự người có tội; hành vi ra quyết định trái pháp luật của người có thẩm quyền trong cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Cơ quan thi hành án; hành vi đánh tháo người bị giam, giữ, người đang bị dẫn giải, người đang bị xét xử. Tuy nhiên, Bộ luật hình sự năm 1999 cũng loại trừ trách nhiệm hình sự một số hành vi mà Bộ luật hình sự năm 1985 quy định là tội phạm như: hành vi không tố giác tội phạm của ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội, (trừ hành vi không tố giác các tội xâm phạm an ninh quốc gia và các tội đặc biệt nghiêm trọng được quy định tại Điều 313 Bộ luật hình sự ).
Đối với các tội phạm cụ thể cũng được bổ sung các tình tiết là yếu tố định tội hoặc định khung hình phạt mà Bộ luật hình sự năm 1985 chưa quy định. Về đường lối xử lý, nói chung các tội xâm phạm hoạt động tư pháp quy định tại chương XXII Bộ luật hình sự năm 1999 đều có mức hình phạt nặng hơn so với Bộ luật hình sự năm 1985. Hình phạt bổ sung được quy định ngay trong điều luật. Nhìn chung, nếu dựa theo đặc điểm của chủ thể tội phạm, có thể chia loại tội này làm bốn nhóm: Nhóm 1: Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp do những người có chức vụ, quyền hạn trong hoạt động tư pháp thực hiện được quy định từ các điều từ Điều 293 đến 296, các điều từ 298 đến 303 và Điều 305 Nhóm 2: Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp do những người có nghĩa vụ phải giúp các cơ quan tư pháp trong thực hiện hoạt động tư pháp được quy định tại các Điều 307, 308 và 301.
Nhóm 3: Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà chủ thể là đối tượng của các bản án hoặc quyết định của cơ quan tư pháp được quy định tại các Điều 304 và 311. Nhóm 4: Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà chủ thể có thể là công dân bình thường, là người có chức vụ, quyền hạn nhất định và đã sử dụng, chức vụ quyền hạn này để cản trở các hoạt động tư pháp. Nhóm tội này bao gồm các tội được quy định tại các Điều 297, 306, 309, 312, 313 và 314. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Để hiểu rõ về khái niệm các tội phạm xâm phạm hoạt động tư pháp trước hết chúng ta cần nắm rõ khái niệm tư pháp, cơ quan tư pháp và hoạt động tư pháp.
Theo Từ điển Tiếng Việt thì "Tư pháp là xét xử các hành vi phạm pháp và các vụ kiện tụng trong nhân dân” [23, tr. Còn quan niệm của pháp luật Trung Quốc thì "Tư pháp là việc nắm giữ pháp luật" và theo nghĩa Hán Việt "Tư pháp là trông coi và bảo vệ". Trong tác phẩm "Bàn về khế ước xã hội" của Jean - Jacques Rouseau, tác giả có đưa ra quan điểm: "Tư pháp là cơ quan thiêng liêng nhất và được coi trọng nhất vì nó bảo vệ luật mà luật do cơ quan quyền lực tối cao ban hành và do chính phủ chấp hành" [19, tr. Theo tác giả Dương Thanh Mai: "Tư pháp là một ý tưởng cao đẹp về một nền công lý đòi hỏi việc giải quyết các tranh chấp xảy ra trong xã hội phải đúng pháp luật, phù hợp với lẽ phải, công bằng, bình đẳng và đảm bảo sự tin cậy đối với sự phát triển an toàn của mỗi công dân, xã hội" [22, tr.
Hiện nay về khái niệm tư pháp còn nhiều quan điểm khác nhau để hiểu vấn đề này. Trong đó chủ yếu gồm các nhóm quan điểm sau đây. Có quan điểm cho rằng hệ thống pháp luật gồm Công pháp và Tư pháp. Công pháp điều chỉnh các quan hệ giữa nhà nước với cá nhân, cơ quan, tổ chức như luật hành chính hay luật hình sự.
Tư pháp là luật tư điều chỉnh các quan hệ giữa cá nhân, cơ quan hay tổ chức với nhau; Nhà nước chỉ tham gia dưới góc độ quản lý và định hướng như luật dân sự, luật kinh tế, luật thương mại. Đây là quan điểm được thừa nhận ở các nước theo truyền thống Châu Âu lục địa, tuy nhiên, quan điểm này không được thừa nhận tại Việt Nam [33, tr176]. Bên cạnh đó còn có ý kiến cho rằng tư pháp là một trong ba nhánh quyền lực Nhà nước là hành pháp, lập pháp và tư pháp. Quan điểm này theo Thuyết tam quyền phân lập.
Việt Nam không theo thuyết này và tổ chức Nhà nước ở nước ta theo phương thức tập quyền, vào Quốc hội, nhưng có sự phân công giữa các cơ quan hành pháp, lập pháp và tư pháp [25, tr.26] 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ngoài ra còn một số ý kiến cho rằng Tư pháp là khái niệm chung dùng để chỉ các Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, Cơ quan thi hành án và các cơ quan bổ trợ tư pháp; là các chủ thể làm công tác tư pháp - hộ tịch. Khái niệm này cũng bao gồm hoạt động của các chủ thể nêu trên như hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án dân sự, thi hành án hình sự, hoạt động bổ trợ tư pháp (giám định, công chứng.) hay hoạt động mang tính chất hành chính - tư pháp (công chứng, hộ tịch. Khái niệm này rất rộng vì những cơ quan bổ trợ tư pháp và hành chính- tư pháp là những hoạt động do pháp luật hành chính điều chỉnh, độc lập với hoạt động tư pháp của các Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, Thi hành án vì chúng chỉ có ý nghĩa hỗ trợ cho hoạt động tư pháp.