Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUYỀN CỦA CỔ ĐÔNG VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI BẢO VỆ CỔ ĐÔNG THIỂU SỐ TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN 1. KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN 1. Sự hình thành công ty cổ phần trong lịch sử Công ty cổ phần là hình thức tổ chức kinh doanh có nguồn gốc từ xa xưa, xuất phát từ những tổ chức kinh doanh thương mại ở Địa Trung Hải 3000 năm trước công nguyên. Nhưng phải đến thế kỷ XVI, các công ty được coi là tổ tiên của công ty cổ phần hiện đại mới ra đời.
Đó là các công ty được chính quyền cấp phép để độc quyền buôn bán trên một vùng lãnh thổ, điển hình là Công ty Đông Ấn của Anh (thành lập năm 1600) buôn bán ở Ấn Độ, Công ty Muscovy ở Nga và Hudson’s Bay ở Mỹ [3, tr. Các công ty này tiếp tục thuộc tính trách nhiệm hữu hạn dành cho các thành viên đã được hình thành từ thời Trung cổ, hơn nữa đã có thể bán cổ phiếu trên thị trường tự do. Giờ đây, hình thức công ty cổ phần được sử dụng rộng rãi khi khởi sự kinh doanh, từ các xí nghiệp nhỏ đến các công ty thuộc sở hữu của hàng chục ngàn cổ đông hoạt động trong những ngành nghề kinh doanh khác nhau trên khắp các châu lục của thế giới. Khái niệm, đặc điểm của công ty cổ phần Ở các nước theo hệ thống pháp luật Anh Mỹ, có hai loại công ty là công ty đóng và công ty mở hay công ty đại chúng.
Về cơ bản, loại hình công ty mở tương tự như loại hình công ty cổ phần theo luật của các nước châu Âu lục 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Ở Thái Lan, Xingapo, công ty cổ phần được biết đến với cái tên "Công ty trách nhiệm hữu hạn công cộng" ở Philippin là "Công ty cổ phần thường". Dù cho tên gọi có khác nhau ở nước này nước kia, công ty cổ phần có những đặc điểm cơ bản sau: (i) Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân độc lập; (ii) Người góp vốn vào công ty (cổ đông) chịu trách nhiệm hữu hạn (iii) Phần vốn góp vào công ty (cổ phần) về cơ bản được tự do chuyển nhượng; và (iv) Công ty được quản lý tập trung. a) Tư cách pháp nhân độc lập Công ty cổ phần là một thực thể có tư cách pháp nhân độc lập.
Ở Mỹ, pháp nhân được định nghĩa là "một thực thể, không phải con người tự nhiên, nhưng có thể hoạt động, có thể đi kiện hoặc bị kiện". Luật Việt Nam dùng cụm từ "nhân danh mình tham gia các quan hệ pháp luật một cách độc lập". Công ty cổ phần tách bạch khỏi những người đã góp vốn thành lập nên nó. Một khi cổ đông đã góp tài sản vào công ty, công ty trở thành chủ sở hữu đối với tài sản, cổ đông không còn quyền sở hữu đối với tài sản đó nữa.
Tư cách pháp nhân độc lập còn thể hiện ở khả năng tồn tại liên tục của công ty không phụ thuộc vào sự chuyển nhượng vốn của cổ đông. Cho nên công ty cổ phần có thể tồn tại lâu dài, trên thế giới có nhiều công ty đã hoạt động hàng trăm năm nay. b) Trách nhiệm hữu hạn của cổ đông Ý niệm "trách nhiệm hữu hạn" đã xuất hiện từ lâu trong lịch sử. Khi mà những thương nhân ở Venise, ý gom tiền để kinh doanh vận chuyển hàng hóa bằng đường thủy thì khi thuyền đắm, họ chỉ mất đi số tiền đã bỏ vào 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chuyển hàng ấy mà thôi, còn tiền để ở nhà thì không hề hấn gì.
Nhưng phải cần một thời gian rất dài sau đó, khái niệm trách nhiệm hữu hạn mới được pháp luật ghi nhận. Luật cho phép những người góp vốn vào công ty cổ phần hưởng chế độ trách nhiệm hữu hạn tức cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp. Họ không phải lấy tài sản không đem vào kinh doanh để trả nợ. Đó là cách pháp luật khuyến khích người dân tham gia kinh doanh để phát triển kinh tế.
c) Tự do chuyển nhượng cổ phần Trừ một số hạn chế luật định, cổ đông được tự do mua bán, chuyển nhượng cổ phần của mình cho bất kỳ ai vào bất kỳ lúc nào mà không phụ thuộc vào sự đồng ý của công ty. Bất kỳ lúc nào cổ đông cũng có thể đẩy rủi ro sang cho người khác mà không lo sợ tiền của mình bị "đóng băng" trong công ty cho đến khi công ty giải thể, nhờ vậy cổ đông có thể đa dạng hóa việc đầu tư của họ. Đây là một đặc trưng riêng của công ty cổ phần. Trong công ty trách nhiệm hữu hạn, việc chuyển nhượng phần vốn góp cho người ngoài công ty không được tự do bởi yếu tố nhân thân của các thành viên có vai trò quan trọng hơn vốn góp trong việc thành lập công ty.
Vì thế nếu công ty trách nhiệm hữu hạn "đóng" với sự gia nhập của thành viên mới, thì công ty cổ phần hoàn toàn "mở" luật không giới hạn số lượng tối đa cổ đông. Khả năng tự do chuyển nhượng cổ phần của cổ đông còn tạo ra một sức ép lành mạnh cho bộ máy quản lý, điều hành của công ty phải hoạt động hiệu quả nếu không muốn bị thay thế. d) Quản lý tập trung và thống nhất Nếu hàng trăm, nghìn cổ đông cùng có quyền quản lý như thành viên trong công ty trách nhiệm hữu hạn thì quả là không có hiệu quả về mặt kinh tế cũng như không khả thi. Hơn nữa, đa số cổ đông chỉ mong đợi hưởng cổ tức 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hoặc hưởng lãi vốn (từ việc bán cổ phiếu khi giá tăng) chứ ít quan tâm đến quản lý kinh doanh và cũng không có khả năng quản lý.
Vì thế, các cổ đông cần một đội ngũ chuyên nghiệp để quản lý công ty. Đồng thời cũng cần có cơ chế để kiểm soát hoạt động của bộ máy đó đi đúng quỹ đạo hướng đến mục tiêu tối đa hóa của cải của cổ đông và công ty. Công ty cổ phần còn có đặc trưng riêng là có thể phát hành chứng khoán (cổ phiếu) để huy động vốn. Lịch sử hình thành và phát triển của công ty cổ phần cho ta thấy đây là phương thức huy động vốn cao nhất của loài người.
Với các đặc điểm ưu thế kể trên, công ty cổ phần đang và sẽ trở thành loại hình doanh nghiệp phổ biến nhất trong thế giới hiện đại. KHÁI QUÁT VỀ BẢO VỆ CỔ ĐÔNG TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN 1. Khái quát về cổ đông a) Khái niệm cổ đông, quyền cổ đông Cổ đông là người đã góp vốn vào công ty cổ phần bằng cách mua cổ phần của công ty. Khi đã đưa tài sản vào công ty, quyền sở hữu tài sản của cổ đông được chuyển sang cho công ty.
Đổi lại, họ trở thành các đồng sở hữu chủ của công ty. Cổ đông có quyền lợi đối với công ty tương ứng với phần vốn góp của mình. Hiện có một số học thuyết về quyền của cổ đông trong công ty cổ phần. Thuyết cổ điển cho rằng các quyền của cổ đông có cội nguồn từ khế ước.
Một thuyết khác coi công ty cổ phần là một quốc gia thu nhỏ, do đó quyền của cổ đông có thể đem so với những quyền cơ bản của công dân mà Nhà nước phải đảm bảo. Các quyền cơ bản gồm quyền mang tính "chính trị" (quyền quyết định những vấn đề quan trọng của công ty) và quyền mang tính tài sản (ví dụ quyền hưởng cổ tức) Người Mỹ lại quan niệm mối quan hệ giữa công ty và cổ đông là quan hệ giữa "người thụ thác" và "người hưởng lợi". Quyển cổ đông xuất phát từ 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quyền thụ hưởng lợi ích từ tài sản đã ký thác vào công ty mà không cần phải nắm quyền sở hữu tài sản [3, tr. b) Các loại cổ đông Có nhiều cách phân loại cổ đông.
Sau đây là một số cách phân loại phổ biến và có nhiều ý nghĩa hơn cả. * Cổ đông phổ thông, cổ đông ưu đãi Công ty cổ phần có nhiều loại cổ phần khác nhau, mỗi loại cổ phần tạo cho người sở hữu nó (cổ đông) các quyền và nghĩa vụ nhất định, kéo theo sự khác nhau trong cơ chế bảo vệ quyền cổ đông. Luật các nước trên thế giới thường phân loại cổ đông thành cổ đông phổ thông và cổ đông ưu đãi. Cổ đông phổ thông là loại cổ đông không thể thiếu và cũng là loại phổ biến nhất trong công ty cổ phần.
Cổ đông phổ thông có đầy đủ các quyền cơ bản của chủ sở hữu công ty như: quyền tham dự và biểu quyết tại cuộc họp cổ đông, quyền nhận cổ tức, quyền chuyển nhượng cổ phần. So với cổ đông phổ thông, cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi được hưởng một số ưu đãi (quyền hoặc lợi ích) đồng thời chịu những hạn chế nhất định về quyền. Việc ấn định các quyền lợi cụ thể cho cổ phần ưu đãi thường do các công ty tự đề ra, sau được luật ghi nhận. Thông thường, gồm có các loại cổ phần ưu đãi biểu phiếu, cổ phần ưu đãi cổ tức, cổ phần ưu đãi hoàn lại.
Ngoài ra thỏa thuận thành lập và điều lệ công ty có thể quy định thêm các loại cổ phần ưu đãi khác hoặc kết hợp các loại cổ phần ưu đãi với nhau. Chẳng hạn cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết có số phiếu biểu quyết nhiều hơn cổ đông phổ thông nhưng lại chịu hạn chế là không được chuyển nhượng cổ phần cho người khác. Cổ đông ưu đãi cổ tức thì được trả cổ tức cao hơn cổ đông thường nhưng lại không được quyền biểu quyết. Tuy nhiên cổ đông ưu đãi vẫn có quyền biểu quyết trong một số trường hợp nhất định.
Theo luật Mỹ, các trường hợp này là: (i) khi có đề nghị giải thể công ty, (ii) 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khi có đề nghị thay đổi các quyền lợi dành cho cổ phần ưu đãi, khi cổ tức bị trả chậm [3, tr. * Cổ đông đa số, cổ đông thiểu số Căn cứ vào lượng cổ phần mà cổ đông sở hữu, sẽ có cổ đông nhiều nắm nhiều, cổ đông nắm ít cổ phần. Do nguyên tắc quyết định theo đa số trong chế độ hoạt động của Đại hội đồng cổ đông, cổ đông có nhiều cổ phần trở thành đa số, còn người có ít cổ phần trở thành thiểu số khi biểu quyết.