Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ VIỆC LÀM CHO NÔNG DÂN KHI THU HỒI ĐẤT Ở HÀ NỘI 1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ VIỆC LÀM CHO NÔNG DÂN KHI THU HỒI ĐẤT 1. Khái quát một số nghiên cứu ở nước ngoài về việc làm 1. Các nhà kinh điển Mác - Lênin - Khi nghiên cứu về quá trình sản xuất Tư bản chủ nghĩa, Các Mác phát hiện ra các điều kiện để sức lao động trở thành hàng hoá; các thuộc tính đặc biệt của hàng hoá sức lao động làm căn cứ luận giải nguồn gốc giá trị thặng dư.
Sự biểu hiện sản xuất giá trị thặng dư qua các giai đoạn phát triển của CNTB. Trong đó hệ thống giản đơn được khái quát là cách mạng về tổ chức lao động, hệ thống công trường thủ công là cuộc cách mạng về sức lao động. Trên cơ sở đó luận giải bản chất của tiền công là giá cả hay giá trị sức lao động được biểu hiện ra bên ngoài là giá cả hay giá trị của lao động. Theo Các Mác thì khi ứng dụng các thành tựu KH - CN hiện đại thường dẫn đến tăng kết cấu hữu cơ tư bản và tăng năng suất lao động, mà: Sự tăng năng suất lao động thể hiện ra ở việc giảm bớt khối lượng lao động sống so với khối lượng tư liệu sản xuất mà lao động đó làm cho hoạt động, hay là thể hiện ra ở sự giảm bớt đại lượng của nhân tố chủ quan của quá trình lao động so với nhân tố khách quan của quá trình đó [12, tr.
Vì vậy, phần bất biến của tư bản vận động cùng chiều với sự tăng lên của tích luỹ tư bản, còn bộ phận tư bản khả biến thì nói chung sẽ vận động ngược chiều với sự tăng lên của tích luỹ. Có thể nói các quan điểm của các nhà kinh điển Mác - Lênin về lao động, việc làm là cơ sở lý luận cốt lõi để xem xét, vận dụng trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường và kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam. Lênin, thì sự phát triển kinh tế hàng hoá khiến một bộ phận ngày càng đông trong dân cư tách khỏi nông nghiệp, tức là nhân khẩu công nghiệp tăng lên làm cho nhân khẩu nông nghiệp giảm xuống, V.Lênin nhắc lại luận điểm của C.Mác: Do bản chất của nó phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa không ngừng giảm bớt nhân khẩu nông nghiệp so với nhân khẩu phi nông nghiệp, bởi vì trong công nghiệp (theo nghĩa hẹp của danh từ này) việc tư bản bất biến tăng lên làm giảm tư bản khả biến thường liên quan với sự tăng thêm tuyệt đối (dù là giảm bớt tương đối) của tư bản khả biến, còn trong nông nghiệp thì ngược lại, tư bản khả biến cần thiết để kinh doanh một khoảnh đất nhất định lại giảm bớt một cách tuyệt đối; do đó tư bản khả biến chỉ có thể tăng thêm khi có những đất mới được canh tác, mà điều này lại đòi hỏi rằng nhân khẩu phi nông nghiệp phải tăng lên nhiều hơn nữa [34, tr. Đặc biệt Lênin phát triển luận điểm của Mác về sự phát triển của máy móc thay thế sức lao động và chỉ ra cuộc đấu tranh giữa công nhân và máy móc, với tư cách là máy móc, tư liệu lao động đã trở thành những kẻ cạnh tranh với bản thân người công nhân.
Một bộ phận của giai cấp công nhân mà máy móc đã biến thành dư thừa do sự thay đổi trong kết cấu hữu cơ tư bản (C/V), trong đó C tăng lên tuyệt đối và tương đối, V tăng lên tuyệt đối và giảm đi tương đối. V giảm làm cho cung về sức lao động lớn hơn cầu về sức lao động trên thị trường và giá cả sức lao động giảm xuống. Các Mác cho rằng tư liệu lao động đã giết chết người lao động. Từ đó vận dụng trong điều kiện CNTB độc quyền Lênin đã đưa ra luận điểm CNTB thối nát khi nói về sự kìm hãm tiến bộ khoa học kỹ thuật và đồng thời chỉ ra CNTB không thể và không bao giờ giải quyết triệt để nạn thất nghiệp để duy trì một sức ép với giai cấp công nhân… 9 1.
Các công trình nghiên cứu khác - Mô hình tạo việc làm theo kiểu cổ điển: tự do cạnh tranh trên thị trường - mức lương linh hoạt và sự toàn dụng lao động Trong nền kinh tế tự do cạnh tranh, sự thoả dụng của của cá nhân người lao động và tối đa hoá lợi nhuận của người sản xuất khi tham gia vào thị trường lao động phải tuân thủ theo quy luật của thị trường. Mức lương và việc làm do luật cung cầu lao động quyết định. Với mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận, cá nhà sản xuất sẽ thuê nhiều lao động hơn chừng nào mà giá trị sản phẩm cận biên một người lao động sản xuất ra cao hơn chi phí mà anh ta bỏ ra thuê lao động (hay là mức tiền lương). Về mặt cung lao động, các cá nhân lao động tìm cách có chế độ thoả dụng tối đa.
Họ sẽ phân chia thời gian cho nghỉ ngơi và làm việc theo chế độ thoả dụng cận biên.Việc tăng lương cũng đồng nghĩa với tăng giá cho sự nghỉ ngơi. Do đó, mức lương càng cao bao nhiêu thì mức cung lao động càng cao bấy nhiêu. Trong trường hợp cung lao động bằng cầu lao động có nghĩa là mức lương cân bằng, không có thất nghiệp - tức toàn dụng lao động, lúc này bất kỳ người lao động nào có nhu cầu việc làm đều tìm được việc làm. Nhưng thị trường lao động lại luôn biến động không ngừng do đó nó làm cho cung cầu lao động luôn luôn biến đổi theo.
Nếu cung lao động lớn hơn cầu lao động, khi đó người lao động sẽ phải cạnh tranh với nhau để bán sức lao động và có việc làm. Điều này sẽ làm giảm giá trị sức lao động, do đó làm cho mức lương giảm xuống. Ngược lại, khi cầu lớn hơn cung về lao động lúc này các chủ sử dụng lao động sẽ phải cạnh tranh với nhau để thuê lao động, do vậy nó lại làm cho giá trị sức lao động tăng lên và kéo theo là làm cho mức lương cung tăng theo. Do đó, tự do cạnh tranh mua bán sức lao động trên thị trường, các mức lương linh hoạt được hình thành như có một sức mạnh của bàn tay vô hình, thất nghiệp không xảy ra, mọi người có khả năng lao động và có nhu cầu làm việc thì đều được đáp ứng về việc làm.
Keynes đã tập trung xem xét mối quan hệ chặt chẽ giữa sản lượng - thu nhập; tiêu dùng - tiết kiệm và đầu tư. Xét từ góc độ tâm lý chủ quan của người tiêu dùng trong xã hội ông cho rằng tốc độ tăng tiêu dùng luôn nhỏ hơn tốc độ tăng thu nhập và tiết kiệm. Điều này đã làm cho cầu tiêu dùng thực tế giảm xuống so với thu nhập, dẫn đến một bộ phận hàng hoá không bán được. Đây là nguyên nhân gây ra khó khăn, thất nghiệp tác động trực tiếp đến sản xuất của chu kỳ sau, do đó việc làm giảm và tình trạng thất nghiệp tăng.
Từ đó ông rút ra kết luận: Để tăng việc làm, giảm thất nghiệp phải tăng cầu trong nền kinh tế gồm cả cầu tiêu dùng và cầu đầu tư. Giải pháp mà ông đề xuất: Chính phủ có vai trò kích thích tiêu dùng để tăng cầu thông qua các khoản chi tiêu Chính phủ hoặc thông qua chính sách đầu tư. Keynes còn sử dụng các biện pháp: hạ lãi suất cho vay, giảm thuế, trợ giá đầu tư, in thêm tiền giấy để cấp phát cho ngân sách nhà nước nhằm tăng đầu tư và bù đắp các khoản chi tiêu của Chính phủ. Ông chủ trương tăng tổng cầu của nền kinh tế bằng mọi cách, kể cả khuyến khích đầu tư vào các hoạt động ăn bám nền kinh tế như: sản xuất vũ khí đạn dược, chạy đua vũ trang, quân sự hoá nền kinh tế.
Ông còn cho rằng: chừng nào còn có thất nghiệp và trì trệ trong nền kinh tế thì mức cung các loại hàng hoá và dịch vụ tự động đáp ứng mức cầu lên cao này và tạo điều kiện để cải thiện thu nhập cũng như tạo thêm việc làm [54]. Tuy nhiên lý thuyết này của Keynes đưa ra chỉ đúng với các nước phát triển còn đối với các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam thì có thể sẽ gặp một số vấn đề khi áp dụng nó vì: + Do sự hạn chế về mặt cơ cấu và thể chế đối với khâu cung ứng, tình trạng thiếu vốn, nguyên liệu cũng như nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn và tay nghề cao, các loại thị trường như tài chính, sức lao động… về tổ chức và hoạt động chưa thực sự nhuần nhuyễn và hiệu quả. Đã đi ngược lại quan niệm cho rằng tăng cầu của Chính phủ và tư nhân sẽ 11 làm tăng mức công ăn việc làm và giảm thất nghiệp. + Do tác động của quá trình đô thị hoá đang kéo theo lực lượng lao động rất lớn từ khu vực nông thôn ra thành thị để tìm kiếm việc làm, vì nơi này có điều kiện làm việc và đời sống cao hơn.
Như vậy, việc tạo công ăn việc làm cho khu vực hiện đại ở thành thị bằng cách tăng mức tổng cầu có thể sẽ thu hút thêm nhiều người di cư từ nông thôn ra thành thị để kiếm việc làm. Điều này sẽ làm cho tình trạng thất nghiệp ở khu vực thành thị gia tăng, như vậy theo lý thuyết của Keynes thì với những chính sách đưa ra để nhằm tăng sản lượng và tạo thêm công ăn việc làm thực ra lại có thể làm giảm toàn bộ mức công ăn việc làm và sản lượng quốc dân. + Trong một số trường hợp nếu tăng trưởng việc làm có thể lại dẫn đến tình trạng làm chậm tăng trưởng sản lượng, thậm chí lại làm giảm sản lượng. - Lý thuyết về tạo việc làm bằng chuyển giao lao động giữa hai khu vực của nền kinh tế [46].
Tư tưởng cơ bản của lý thuyết này là chuyển số lao động dư thừa từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp hiện đại do hệ thống tư bản nước ngoài đầu tư vào các nước lạc hậu. Quá trình này sẽ tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển. Bởi vì trong khu vực nông nghiệp, đất đai chật hẹp, lao động lại quá dư thừa. Ngoài số lao động cần đủ cho sản xuất nông nghiệp, còn có lao động thừa làm các ngành nghề lặt vặt, buôn bán nhỏ, phục vụ trong gia đình và lao động phụ nữ.
Số lao động dôi dư này không có công ăn việc làm. Nói cách khác, họ không có tiền lương và thu nhập.