CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VĂN HÓA ĐỌC CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI 1. Những vấn đề lý luận chung về văn hóa đọc 1. Khái niệm văn hóa đọc Văn hóa đọc - một bộ phận của Văn hóa – là một trong những động lực thúc đẩy sự hình thành nên con người mới, những công dân có hiểu biết, có trí tuệ để có thể thích ứng với sự phát triển của xã hội hiện đại – xã hội dựa trên nền tảng của nền kinh tế tri thức. Như vậy, để hiểu về văn hóa đọc trước hết cần làm rõ khái niệm về văn hóa.
Đây là khái niệm mang nội hàm rộng với rất nhiều cách hiểu khác nhau, liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của con người. Theo Wikipedia định nghĩa “Văn hóa là bao gồm tất cả những sản phẩm của con người, và như vậy, văn hóa bao gồm cả hai khía cạnh: khía cạnh phi vật chất của xã hội như ngôn ngữ, tư tưởng, giá trị và các khía cạnh vật chất như nhà cửa, quần áo, các phương tiện, v. Cả hai khía cạnh cần thiết để làm ra sản phẩm và đó là một phần của văn hóa”. Trong Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, do Nhà xuất bản Đà Nẵng và Trung tâm Từ điển học xuất bản năm 2004 thì đưa ra một loạt quan niệm về văn hóa: “Văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử -văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn,trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên xã hội.” Hay nói tổng quát: Văn hóa là những hoạt động của con người nhằm thỏa mãn nhu cầu đời sống tinh thần.
Văn hóa là tri thức, kiến thức khoa học. Văn hóa là trình độ cao trong sinh hoạt xã hội, biểu hiện của văn minh. Văn hóa còn là cụm từ để chỉ một nền văn hóa của một thời kỳ lịch sử cổ xưa, được xác định trên cơ sở một tổng thể những di vật có những đặc điểm giống nhau, ví dụ Văn hóa Hòa Bình, Văn hóa Đông Sơn.TSKH Trần Ngọc Thêm cho rằng: Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình [43, tr. Như vậy, có thể định nghĩa Văn hóa là sản phẩm của loài người, văn hóa được tạo ra và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội.
Song, chính văn hóa lại tham gia vào việc tạo nên con người, và duy trì sự bền vững và trật tự xã hội. Văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa. Văn hóa được tái tạo và phát triển trong quá trình hành động và tương tác xã hội của con người. Văn hóa là trình độ phát triển của con người và của xã hội được biểu hiện trong các kiểu và hình thức tổ chức đời sống và hành động của con người cũng như trong giá trị vật chất và tinh thần mà do con người tạo ra.
Văn hóa được thể hiện hàng ngày, rất gần gũi với mọi người chúng ta như: văn hóa dân tộc, văn hóa lễ hội, văn hóa đô thị, văn hóa lối sống, văn hóa giáo dục. Nhưng nhìn chung tất cả các hiện tượng văn hóa đều thuộc về một trong bốn thành tố sau: Văn hóa nhận thức, Văn hóa tổ chức cộng đồng, Văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên và Văn hóa ứng xử với môi trường xã hội. Do vậy, Văn hóa là yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người. Từ khi chữ viết ra đời, con người bắt đầu có nhu cầu đọc chữ và sách, báo chính là sản phẩm của công nghệ in ấn phát triển.
Sách được đánh giá là nguồn lưu trữ tri thức, văn hóa của một quốc gia, dân tộc với số lượng lớn, chính xác và dễ khai thác nhất. Đồng thời, sách còn là cơ sở cho giao lưu văn hóa giữa các nền văn hóa. Vì vậy, hoạt động đọc của con người ngày càng trở nên phổ biến hơn trong xã hội. Đọc không còn chỉ là "để biết", để thừa nhận và tiếp nhận tri thức nhân loại mà là đọc để phát hiện, để chứng minh chân lý.
Khi đó, con người định hướng đến sách, đến các bộ sách, đến các công trình lớn, đến các lý luận và học thuyết. Sự đọc này ngầm định sự giao tiếp và tranh luận. Ngày nay, với sự phát triển của khoa học công nghệ, con người được tiếp thu mọi lĩnh vực tri thức thông tin qua truyền thanh, truyền hình và các phương tiện truyền thông khác nhưng sách vẫn giữ vai trò vô cũng quan trọng đối với cuộc sống. Đọc sách là một hoạt động có tính chất văn hóa của người đọc.
Tuy nhiên, - 14 - đọc sách gì và đọc như thế nào cũng là một phương diện của văn hóa mà chúng ta vẫn gọi là Văn hóa đọc. "Văn hóa đọc" là một khái niệm mới, chưa có định nghĩa cũng như khái niệm nào nói văn hóa đọc là gì và nó như thế nào? Mặc dù vậy, theo thời gian cũng như sự phát triển của xã hội, thuật ngữ “văn hóa đọc” ngày càng được nói nhiều hơn trên các phương tiện thông tin đại chúng và trở thành đề tài khoa học. Có nhiều quan niệm khác nhau về văn hóa đọc: Văn hoá đọc là một khái niệm có hai nghĩa, một nghĩa rộng và một nghĩa hẹp.: + Ở nghĩa rộng, đó là ứng xử đọc, giá trị đọc và chuẩn mực đọc của mỗi cá nhân, của cộng đồng xã hội và của các nhà quản lý và cơ quan quản lý nhà nước. Như vậy, văn hoá đọc ở nghĩa rộng là sự hợp thành của ba yếu tố, hay chính xác hơn là ba lớp như ba vòng tròn không đồng tâm, ba vòng tròn giao nhau.
+ Ở nghĩa hẹp, đó là ứng xử, giá trị và chuẩn mực đọc của mỗi cá nhân. Ứng xử, giá trị và chuẩn mực này cũng gồm ba thành phần: thói quen đọc, sở thích đọc và kỹ năng đọc [33, tr. Chu Vân Khánh, văn hóa đọc là một loại hình hoạt động văn hóa, bởi lẽ: Đọc sách là tiêu thụ, quảng bá những giá trị văn hóa và các giá trị từ sách báo mà người đọc tiếp nhận, đã được thực thao và làm nền tảng để tiếp tục sáng tạo nên những giá trị mới. Vì vậy, có thể xem văn hóa đọc là một chỉ số văn hóa của một cộng đồng, một xã hội.
Bùi Văn Vượng lại coi thuật ngữ văn hóa đọc là đọc sách có văn hóa, hay xây dựng một xã hội đọc sách. Lê Văn Viết, quan niệm đọc đến một mức độ, trình độ nhất định nào đó thì mới được coi là văn hóa đọc [37, tr. Như vậy, Văn hóa đọc có thể hiểu một cách khái quát là cách thức ứng xử và đánh giá đọc của mỗi cá nhân thông qua thói quen đọc, sở thích đọc và kỹ năng đọc của bản thân. Ngày nay với sự bùng nổ công nghệ thông tin, con người ngày càng tiếp xúc với các phương tiện truyền thông hiện đại, nhiều ý kiến lo ngại rằng văn hoá nghe nhìn sẽ ngày càng lấn lướt văn hoá đọc.
Thậm chí nhiều người đổ lỗi cho sự phát - 15 - triển của công nghệ đã khiến cho văn hóa đọc ngày càng bị lãng quên. Tuy nhiên xu hướng thế giới cho thấy, việc ra đời sách điện tử không hề làm mất đi văn hóa đọc mà thậm chí bởi sự tiện dụng, sách điện tử còn làm cho số người đọc sách tăng lên. Chúng ta không nên gạt bỏ một công nghệ hiện đại khi mà nó hoàn toàn có khả năng thúc đẩy sự phát triển văn hóa đọc. Bởi lẽ các loại hình văn hóa khác như văn hóa nghe nhìn, không thể lấn át văn hóa đọc mà chúng chỉ bổ sung cho nhau, mỗi loại hình có một thế mạnh riêng.
Văn hóa đọc bao giờ cũng đóng vai trò chủ đạo trong việc truyền bá và tiếp thu kiến thức một cách hệ thống và sâu sắc mà văn hóa nghe nhìn không thể làm được như vậy. Trong khi văn hóa nghe nhìn lấy đi sự sáng tạo, trí tưởng tượng thì văn hóa đọc lại làm giàu thêm những thứ đó. Đọc sách vẫn luôn được coi là một cách thưởng thức văn hóa sang trọng và có chiều sâu. Vì thế chúng ta không cần quá lo lắng việc trong Xã hội phát triển văn hóa đọc sẽ mất đi, cái cần làm là chúng ta hãy mở rộng hơn những cách tiếp cận việc đọc.
Nội dung của văn hóa đọc Từ định nghĩa trên, Văn hóa đọc được biểu hiện qua các đặc điểm của người đọc đó là nhu cầu đọc, thói quen đọc và sở thích đọc, kỹ năng đọc và văn hóa ứng xử với tài liệu 1. Nhu cầu đọc Nhu cầu là một hiện tượng tâm lý trong cấu trúc tâm lý chung của con người. Nhu cầu đọc là đòi hỏi khách quan của chủ thể (cá nhân, nhóm, xã hội) đối với việc tiếp nhận và sử dụng tài liệu nhằm duy trì và phát triển các hoạt động sống của con người. Nói cách khác, nhu cầu đọc là thái độ của chủ thể với việc đọc như một hoạt động sống không thể thiếu được.
Yêu cầu đọc là biểu hiện cụ thể của nhu cầu đọc. Khi người đọc đã xác định được đối tượng tài liệu cụ thể thỏa mãn được nhu cầu của mình thì họ đưa ra yêu cầu tương ứng. Yêu cầu tương tự sễ lặp đi lặp lại nhiều lần ở những đối tượng cụ thể khác nhau. Tuy nhiên cũng có trường hợp đặc biệt, yêu cầu đọc không phản ánh nhu cầu mà xuất phát từ những yêu cầu công việc đột xuất.
Ví dụ để thực hiện bài tập của một môn học ở một thời điểm cụ thể nào đó [20, tr. Nhu cầu đọc bắt nguồn từ yêu cầu tiếp nhận thông tin khi con người tham gia các hoạt động sống khác nhau, nhưng nó chỉ thực sự hình thành với điều kiện - 16 - chủ thể có khả năng giải mã thông tin được mã hóa trong tài liệu. Khi đòi hỏi đối với việc đọc trở nên cấp bách, thường xuyên, nhu cầu đọc xuất hiện. Nhu cầu đọc bao giờ cũng gắn liền với số lượng và chất lượng tài liệu được lưu hành trong một xã hội cụ thể.