đặt vấn đề tranh đấu, chống áp bức, củng cố niềm tin vào kháng chiến. Điều này đã làm cho các văn chương Nam Bộ giai đoạn năm 1949 đến 1950 phát triển rực rỡ và có giá trị sâu sắc. Đó cũng là bước khởi sắc để văn học Nam Bộ về sau tiếp tục phát triển, tạo ra một diện mạo văn chương tranh đấu công khai và mang bản sắc riêng biệt. Thứ hai, văn chương Nam Bộ hình thành hai vùng văn học: kháng chiến và đô thị.
Nguyên nhân là do từ khi thực dân Pháp quay trở lại xâm chiếm, Nam Bộ bị chia cắt ra thành những khu vực khác nhau. Các phương thức hoạt động văn hóa, văn nghệ giữa các vùng cũng khác nhau. Vùng văn học kháng chiến là vùng nông thôn, rừng núi do quân ta làm chủ đã lập nên các chiến khu để chống trả sự xâm chiếm của quân giặc. Vùng văn học đô thị là nơi các thành phố, thị xã, thị trấn, các trục giao thông chính do thực dân Pháp và bọn tay sai kiểm soát.
Lúc này, ở vùng kháng chiến vào đầu những năm 1945 đến những năm về sau, tinh thần kháng chiến của người Nam Bộ bộc phát mạnh mẽ. Tại đây, có những người kỳ cựu ở vùng kháng chiến và cả những người rời bỏ vùng đô thị đến để tham gia chiến đấu trên mặt trận chính trị và văn nghệ như: Lý Văn Sâm, Thẩm Thệ Hà, Huỳnh Văn Nghệ, Vũ Duy Hanh, Kiều Thanh Quế, Hoàng Văn Bổn, Xuân Miễn, Tô Văn Của,…Tất cả đều là những chiến sĩ trên mặt trận văn nghệ với tấm lòng yêu nước sâu sắc. Những hoạt động của họ có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống văn hóa, văn học. Họ đã thành lập ra các cơ quan tuyên truyền như: Viện Văn hóa kháng chiến Nam Bộ (8/1949), Chi hội Văn nghệ Nam Bộ (29/7/1950).
Họ đẩy mạnh hoạt động báo chí và sử dụng khả năng viết vẽ, sáng tác nhạc, làm tranh cổ động,… để động viên, khích lệ, cổ vũ đồng bào, chiến sĩ tham gia vào công cuộc cứu nước. Nhờ vào các tờ báo chủ chốt như: Nhân dân miền Nam của Trung ương Cục, Lá lúa của Chi hội Văn nghệ Nam Bộ, Vệ quốc, Cứu quốc,…hay những tờ báo xuất hiện riêng ở mỗi khu, mỗi tỉnh, chi đội như: tờ Tiền đạo ở khu 7, tờ Tổ Quốc ở khu 8, Tiếng súng kháng địch ở khu 9, tờ Sao Vàng (9/1945), tờ Tiến lên (1946), tờ Giải phóng ở tỉnh Thủ Dầu Một, tờ Đồng Nai ở tỉnh Biên Hòa, tờ Sống (sau chuyển thành tờ Bà Rịa – thông tin quân dân 15 chánh) ở tỉnh Bà Rịa, tờ Tiếng rừng ở chi đội 10 đóng quân ở Biên Hòa, tờ Việt Nam tiến ở Ban chính trị trung đoàn 301 đóng quân ở Thủ Dầu Một,. mà nội dung, ý nguyện của những văn nghệ sĩ nhanh chóng đến tay độc giả quần chúng nhân dân. Nhìn chung, nội dung và hình thức các bài phóng sự ngắn, thơ ca, hò vè,… trên các mặt báo lúc này còn đơn giản, chỉ nhằm phục vụ kịp thời cho cuộc chiến đấu.
Tuy nhiên, đó cũng là bước đi cần thiết khởi điểm cho một không khí văn hóa – văn nghệ mới ở vùng đất Nam Bộ. Đối với vùng văn học đô thị, tinh thần văn học kháng chiến nơi đây cũng được diễn ra sôi nổi, hừng hực, thậm chí các tác phẩm văn học còn có điều kiện phát triển mạnh mẽ hơn so với vùng văn học kháng chiến. Nhiều người như Vũ Anh Khanh, Thẩm Thệ Hà, Sơn Khanh, Tô Nguyệt Đình,… đã có các tác phẩm mang giá trị cao và đạt thành tựu rực rỡ. Các tác phẩm của họ chủ yếu vẫn hướng về cổ vũ kháng chiến.
Sự ra đời của các tác phẩm này đã nhận được hưởng ứng của đông đảo độc giả, tạo tiếng vang lớn trong quần chúng: “có nhiều tác phẩm trong vòng 2 tháng đã tiêu thụ hết 10.000 quyển: Bạt Xíu Lìn của Vũ Anh Khanh (Tiếng chuông, Sài Gòn, 1949) hoặc ấn hành trong vòng một tháng đã bán hết, NXB cho in lại lần thứ hai như Người yêu nước của Thẩm Thệ Hà (in lần thứ I, II đều do Tân Việt Nam xuất bản, Sài Gòn, 1949). Có những tác phẩm gây phong trào trong quần chúng, nhiều xóm nhỏ người đọc phải chuyền tay nhau thảo luận, bàn bạc khiến nhà cầm quyền Pháp phải ra lệnh tịch thu và cấm tàng trữ” (Nguyễn Văn Sâm, 1972). Sự kiểm duyệt gắt gao của nhà cầm quyền Pháp còn khiến cho một vài tác phẩm không đến tay độc giả, như trường hợp của Sơn Khanh với tác phẩm Nước độc, Thiên Giang với tác phẩm Bứt Xiềng, Thanh Hà với tác phẩm Bốn mùa ly loạn, Triều Sơn với tác phẩm Nuôi sẹo…Các tác phẩm này chỉ được truyền tay trong giới cầm bút giữa những người bạn bè thân hữu và chịu sự ảnh hưởng qua lại lẫn nhau. Về sau, khi kiểm duyệt lơ là, các tác phẩm này mới được xuất bản ra ngoài.
Dĩ nhiên, trong tình hình khó khăn, những người chiến sĩ trên mặt trận văn học vẫn ra sức hoạt động tuyên truyền qua nhiều cách thức khác nhau trên phương diện báo chí, tổ chức. Một mặt, có một số thành phần văn nghệ, trí thức cộng sản được cài vào hoạt động hợp pháp ở báo chí 16 chính phủ thuộc địa. Mặt khác, các văn nghệ, trí thức tham gia vào các tổ chức Văn nhơn kí giả đoàn (1945), Hội Nghệ sĩ (1945), Nghiệp đoàn Báo chí (1946), Liên đoàn Văn hóa cứu quốc Nam Bộ (1946), Nghiệp đoàn Các nhà viết báo Việt – Pháp (1946), Lực lượng dân chủ đoàn kết bảo vệ tự do báo chí (1946), Nghiệp đoàn Kí giả chuyên nghiệp (1946). Trong đó, tổ chức Báo chí thống nhất (10/10/1946) đã hội tụ đầy đủ các văn nghệ sĩ, trí thức yêu nước.
Dù rằng mỗi thành viên trong tổ chức có cá tính khác nhau, mỗi người một vẻ, nhưng tất cả mọi người đều có chung mục đích, quan điểm văn học đó là thống nhất Tổ quốc. Cũng từ đó về sau, một số người trong tổ chức đã đến với cách mạng. Ngoài ra, một số văn nghệ sĩ còn sử dụng văn học để giáo dục tinh thần yêu nước cho thiếu nhi như “tủ sách Thần đồng thuộc NXB Tân Việt Nam của Vũ Anh Khanh và Thẩm Thệ Hà, tủ sách Tuổi xanh thuộc NXB Sống Chung của Sơn Khanh, tủ sách Bạn trẻ thuộc Nam Việt của Đinh Xuân Hòa” (Nguyễn Thị Thanh Xuân, 2018). Chính vì có những hoạt động sôi nổi của văn nghệ sĩ ngay từ đầu những năm kháng chiến, mà văn nghệ ở miền Nam lại khởi sắc hơn so miền Bắc và miền Trung.
Báo Thần chung số ra ngày 7/10/1949 đã cho thấy rằng: “nhìn ra miền Bắc sau khi khói lửa bùng nổ ở Hà Nội (19/12/1946), các ngành hoạt động văn hóa hoàn toàn đình trệ…chúng ta không còn thu nhặt được những tác phẩm văn chương nào. Ở kinh đô Huế cũng thế. Tại miền Nam, trái lại, phong trào văn học bành trướng việc sáng tác và xuất bản mở rộng một kỷ nguyên”. Nhìn chung, vùng văn học kháng chiến và vùng văn học đô thị có sự gần gũi và tương thông với nhau.
Ở hai vùng văn học này đều có chung mục đích sáng tác để tuyên truyền, khích lệ, cổ vũ kháng chiến và giương cao tinh thần yêu nước. Điều này được biểu hiện qua hành động của nhiều văn nghệ sĩ, trí thức rời bỏ Sài Gòn ngay sau Cách mạng tháng Tám đến vùng kháng chiến, cũng như sau Tạm ước ngày 6 tháng 3 năm 1946, một số người ở vùng kháng chiến lại quay trở lại Sài Gòn. Tất cả họ đều có chung nhiệm vụ và chí hướng giành lại độc lập, tự do cho dân tộc, Tổ quốc. Chúng ta có thể thấy trường hợp của Lý Văn Sâm, Hoàng Tấn, Thẩm Thệ Hà,.
là như thế. Bên cạnh đó, cả hai vùng văn học kháng chiến và vùng văn học đô thị còn có sự xướng họa cho nhau. Chẳng hạn như 17 trong tờ Thần Chung đăng thơ ca của các nhà thơ đang ở chiến khu Đồng Tháp gửi về đô thị, hay trong tờ Việt bút tân văn có nhiều bài thơ đầy xúc động của Việt Quang như Gởi bạn chiến khu (số 55, 17/11/1946), Thơ gởi về rừng (số 57, 24/11/1946),…Thêm một đặc điểm chung giữa hai vùng văn học kháng chiến và vùng văn học đô thị, đó là xuất hiện hiện tượng tương thông thú vị giữa hai vùng văn học khi cả hai cùng đăng lại hàng loạt các tác phẩm từ chiến khu Việt Bắc. Trên tuần san Nguồn sáng, trong mục Thơ văn trích diễm đều có giới thiệu thơ Tố Hữu, qua các bài như Tiếng hát đi đày, Nghĩa đời trong ba tiếng, Dậy mà đi, Dửng dưng, Tiếng hát sông Hương.
Đầu tháng 11 năm 1946, tờ Lên đàng đăng hàng loạt các bài về “Cụ Hồ ở chiến khu, giới thiệu nhạc của Nhà cách mạng Võ Nguyên Giáp,… đồng thời đăng lại các bài Âm nhạc – phương tiện đấu tranh của Lưu Hữu Phước, Con đường mới của âm nhạc Việt Nam của Văn Cao” (từ nguồn Lên đàng, số 49, 20/3/1947). Những bài đăng tác phẩm từ chiến khu Việt Bắc góp phần đẩy mạnh công tác tuyên truyền kháng chiến và tinh thần yêu nước giữa hai vùng văn học kháng chiến và văn học đô thị ở Nam Bộ giai đoạn năm 1945 đến năm 1954. Thứ ba, văn học Nam Bộ giai đoạn năm 1945 đến năm 1954 có đề tài đa dạng. Như ta đã thấy, trong hoàn cảnh dầu sôi lửa bỏng của đất nước, hầu hết các văn nghệ sĩ đều tập trung sáng tác nhằm phục vụ cho vận mệnh chung của đất nước.
Họ đã luôn đẩy mạnh khai thác đề tài văn học tranh đấu với mong muốn tạo ra ảnh hưởng tích cực đến độc giả quần chúng. Tuy nhiên, không phải tất cả các tác phẩm ở Nam Bộ trong giai đoạn năm 1945 đến năm 1954 đều có chung một đường lối sáng tác. Ở văn học Nam Bộ trong giai đoạn này vẫn có một số người sáng tác đi ngược lại dòng văn học tranh đấu. Điều này có thể là do vô tình, khác hệ tư tưởng, hoặc người sáng tác đã vạch ra một phương thức sáng tác riêng hoặc là do họ sáng tác theo mục đích riêng nào đó mà họ muốn.
Dù đứng ngoài dòng văn học tranh đấu, những cây bút Nam Bộ này vẫn tạo ra sức hút đối với một số độc giả bởi đề tài sáng tác và phong cách riêng biệt của họ dường như đã phần nào nói đúng tâm lý của độc giả đương thời.