Chương I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÈ VĂN HOÁ UNG XU TRONG GIA ĐÌNH 'VÀ KHÁI QUÁT VẺ GIA ĐÌNH VỢ VIỆT - CHÒNG HÀN Ở HÀ NỘI. Cơ sở lý luận về văn hoá ứng xử trong gia đình 1. Một số khái niệm 1. Khái niệm gia đình Với tư cách là một hình thức công đồng tô chức đời sống xã hội.
Gia đình được hình thành từ rất sớm trong lịch sử của loài người và đã trải qua một quá trình phát triển lâu dài. Gia đình gắn liền với đời sống của mỗi con người và trong đời sống xã hội từ xưa đến nay, gia đình luôn giữ vị trí quan trọng. Cho đến nay có rất nhiều quan niệm khác nhau về gia đình ở các hệ thống chính trị - xã hội và văn hóa. Hàng ngày tái tạo ra đời sống của bản thân mình, con người bắt đầu tạo ra những con người khác, sinh sôi, nảy nở - đó là quan hệ giữa chồng và vợ, cha mẹ và con cái, đó là gia đình” [10, tr38].
Với khái niệm này, gia đình đã được hiểu theo ba nội dung: Một là, gia đình ra đời và tồn tại cùng với sự ra đời và tồn tại của xã hội loài người. Con người cùng với quá trình tái tạo ra chính bản thân mình đồng thời cũng tao ra gia đình. Hai là, chức năng chính của gia đình là tái tạo, sinh sôi nảy nở con người. Ba là, gia đình được tạo ra bởi hai mối quan hệ chủ yếu: quan hệ hôn nhân (vợ - chồng) và quan hệ huyết thống (cha mẹ - con cái).
Trong khái niệm gia đình của Các-Mác và Ăng-ghen đã luận chứng rõ về những mối quan hệ thiết yếu của con người như một điều tất yếu ngoài nhu. cầu vật chất nuôi sống bản thân mình, đó chính là duy trì nòi giống, mối quan. hệ hôn nhân, huyết thống. Tổ chức UNESCO đã quyết định lấy năm 1994 là năm Quốc tế gia đình và thống nhất khẳng định: Gia đình là một yếu tố tự nhiên và cơ bản, một địa vị kinh tế xã hội.
Gia đình được coi như một giá trị vô cùng quý báu của nhân loại, cần được giữ gìn và phát huy. Trên tỉnh thần đó ƯNESCO đã đưa ra định nghĩa: "Gia đình là một nhóm người có quan hệ họ hàng, cùng sống chung và có ngân sách chung. Các thành viên trong gia đình luôn gắn với nhau về trách nhiệm và quyên lợi về mọi mặt, được pháp luật thừa nhận” [24, tr. Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2010 định nghĩa: “Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do.
quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau theo qui định của luật này” [36, tr25]. Trong cuốn “Gia đình học” của Đặng Cảnh Khanh và Lê Thị Quý viết Gia đình là một thiết chế xã hội đặc thù liên kết con người lại với nhau nằm thực hiện việc duy trì nói giống, chăm sóc và giáo dục con cái. Các mối quan hệ gia đình là mối quan hệ họ hàng. Đó là sự liên kết ít nhất cũng là của hai người dựa trên cơ sở huyết thống, hôn nhân và việc nhận con nuôi.
Những người này có thể sống cùng hoặc khác mái nhà với nhau [22, tr.54] Hay dưới góc độ tâm lý học, Ngô Công Hoàn khẳng định: “Gia đình là một nhóm nhỏ xã hội có quan hệ gắn bó về hôn nhân hoặc huyết thống, tim sinh lý, có chung các giá trị vat chat, tinh than ổn định trong các thời điểm lịch sử nhất định” [19, tr.36] Dù có khác nhau nhưng nhìn chung các học giả đều quan niệm chung rằng: Gia đình là một cộng đồng người được xây dựng trên cơ sở hai mi quan hệ cơ bản là hôn nhân và huyết thống được xã hội công nhận. Nhóm gia đình khác với nhóm xã hội khác là sự liên kết chặt chẽ hơn rất nhiều. Như vậy, gia đình là một nhóm xã hội được hình thành trên cơ sở các quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống gắn bó với nhau trách nhiệm và quyên lợi, được pháp luật công nhận. Trên thế giới, ở đất nước nào cũng có gia đình đa văn hoá.
Gia đình đa văn hoá dựa trên sự kết hôn giữa người nước này và một người nước khác. Điền hình như ngay trong đề tài là người phụ nữ Việt Nam lấy người đàn ông Han Quốc. Từ đó ta có thế rút ra được định nghĩa: Gia đình vợ Việ - chẳng Hàn là gia đình trong đó người phụ nữ là người Việt Nam có quan hệ hôn nhân hợp pháp với người đàn ông là người Hàn Quốc. Khái niệm ứng xử Thuật ngữ "ứng xử” trong Từ diễn Tiếng Việt (1997) của Viện Ngôn ngữ học mang hai nội dung chính sau: “Ứng” là đáp lại, lên tiếng đáp lại lời kêu gọi, thứ hai là có mối quan hệ phù hợp tương đối với nhau.
Còn “xử” có nghĩa là hành động theo cách nào đó, thể hiện thái độ đối với người khác trong. một hoàn cảnh cụ thể nhất định [49]. Như vậy ứng xử là có thái độ, hành động, lời nói thích hợp trong giao tiếp, phù hợp với từng tình huống cụ thể, Tuy nhiên, từ mỗi góc độ nghiên cứu, tiếp cận khác nhau, ứng xử được hiểu theo các nghĩa khác nhau: Dưới góc độ sinh học, ứng xử có nghĩa là toàn thể những phản ứng thích nghỉ có thể quan sát khách quan mà một cơ chế, một hệ thống thần kinh thực hiện để đáp trả lại những kích thích. Điều đáng chú ý là những phản ứng ấy (những ứng xử, xử lý để đáp ứng) được diễn ra theo cách tương đối én định Dưới góc độ xã hội học thì ứng xử dùng dé chỉ cách hành động (và nói) như thể nào đó của một vai trò xã hội này đối diện với một vai trò khác (ví dụ một cặp vai trò như: vợ/chồng, cha/con, cấp trên/cấp dưới.) và đó là những.
hành động hoặc gọi là phản ứng theo một cách tương đối. Ứng xử không chỉ giới hạn giữa các vai trò xã hội với nhau, còn là ứng xử với mình, ứng xử với đồ vật, với tự nhiên. Dưới góc độ tâm lý học, các nhà nghiên cứu lại tìm hiễu, khai thác khái niệm ứng xử ở khía cạnh những quan hệ giao tiếp. Họ cho rằng ứng xử là sự phản ứng của con người đối với các tác động của người khác trong một tình huồng cụ thể nhất định.
Nó thể hiện ở chỗ con người không chủ động trong giao tiếp mà chủ động trong phản ứng có lựa chọn, có tính toán, thể hiện qua thái đô, hành vi, cử chỉ, cách nói năng, tùy thuộc vào tri thức, kinh nghiệm và nhân cách của mỗi người nhằm đạt kết quả giao tiếp cao nhất. Trên cơ sở đó ứng xử được hiểu là cách ứng xử nhằm ứng phó với một hoặc nhiều đối tượng. nào đó trong giao tiếp. Theo tác giả Đoàn Văn Chúc, để xác định một cách ứng xử nào đó có văn hóa hay không người ta thường xét bốn yếu tố sau đây: - Ứng xử được thường xuyên lặp đi lặp lại, tức là tính thời gian của ứng xử; - Ứng xử được lặp lại tương đối theo cùng một cách bởi nhiều người, tức là tính không gian của ứng xử; ~ Ứng xử ấy có tác dụng kim chỉ nam mẫu mực hay quy tắc cho các.
thành viên của một nhóm hay một nhóm xã hội; - Ứng xử ấy chứa đựng một ý nghĩa xã hội nào đấy, tức là nó biểu thị kiến thức tư tưởng hoặc tình cảm mà chủ thể đã dat được, nói cách khác nó là cái mang vác một giá trị (kinh tế, chính trị, luân lý hay thắm mỹ) [12, tr.66] ‘Tom lai, ứng xử là sự phản ứng của con người đối với sự tác động của người khác trong những tình huồng xác định. Khải niệm văn hoá ứng xử Con người là sinh vật đặc biệt, điểm nổi bật nhất đó là con người sống trong một thể giới biểu trưng và ước lệ mà những nhà nhân học gọi là văn hóa và theo đó, ứng xử của con người cũng được xếp là ứng xử đặc biệt - ứng xử. Văn hóa là toàn bộ những tín điều, truyền thống,. hướng dẫn hành xử của các cá nhân trong một xã hội, được xã hội trao truyền qua nhiều hình.
thức học tập và lao động. Ở những vùng văn hóa khác nhau có chứa những biểu trưng và ước lệ khác nhau, khiến và buộc con người cần ứng xử khác nhau cho phù hợp. Có thể thấy rằng, ứng xử con người ở các nước, các vùng. khác nhau thì không giống nhau do các nền văn hóa khác nhau.
Khái niệm văn hóa Khái niệm văn hóa đã xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử các nước phương Đông cũng như ở phương Tây. Ở phương Đông, chữ *văn hóa” là một từ gốc Hán - Việt, có nghĩa là làm cho có “văn” hơn, biến thành “van” Theo quan niệm xưa, “văn” có nghĩa là đẹp đẽ. Ở phương Tây, từ văn hóa bắt nguồn từ tiếng La tỉnh, "cultus” có nghĩa là vun trồng, tạo ra những sản phẩm phục vụ cho nhu cầu của con người. Sau đó, từ “cultus" được mở rộng nghĩa, dùng trong lĩnh vực xã hội chỉ sự vun trồng giáo dục, đào tạo và phát triển mọi khả năng của con người.
'Văn hóa là khái niệm đa nghĩa, đang ngày cảng phát triển phong phú hơn với những quan niệm, những cách tiếp cận, góc độ nghiên cứu khác nhau. Tính đến nay, số lượng các định nghĩa về văn hóa ngày càng tăng lên. Kroeber và Kluekhohn xuất bản quyển sách Cuiwre, a critical review of concept and definitions (Van hóa, điểm lại bằng cái nhìn phê phán các khái niệm và định nghĩa), trong đó tác giả đã trích lục khoảng 160 định nghĩa về văn hóa do các nhà khoa học đưa ra ở nhiều nước khác nhau. Và đến nay ước tính có hơn 400 định nghĩa về văn hóa.
Nam 1994, UNESCO đã đưa ra một định nghĩa về văn hóa, theo đó văn hóa được hiểu theo hai nghĩa: nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Theo nghĩa rộng thì “Văn hóa là một phức hệ - tổng hợp các đặc trưng diện mạo về tỉnh thần, vật chất, tri thức và tình cảm. khắc họa nên bản sắc của một công đồng gia đình, xóm làng, vùng, miền, quốc gia, xã hội. Văn hóa không chỉ bao gồm nghệ thuật, văn chương mà còn cả lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống giá trị, những truyền thống, tín ngưỡng.”; Theo nghĩa hẹp thì “Văn hóa là tổng thể những hệ thống biểu trưng (ký hiệu) chỉ phối cách ứng xử và giao tiếp trong cộng đồng, khiến cộng đồng đó có đặc thủ riêng”.