Chương 1 TRANH THỜ TRONG ĐỜI SÓNG VĂN HOÁ NGƯỜI DAO. ĐỜI SÔNG VĂN HÓA CỦA NGƯỜI DAO. Địa bàn cư trú của người Dao Trong các dân tộc thiểu số ở Việt Nam, người Dao là một cộng đồng. dân số khá đông.
Theo tổng điều tra dân số năm 1999 thì người Dao có trên. người sống tập trung nhiều tại tỉnh Hà Giang, Tuyên Quang. Họ là tộc người hiểm hoi có địa bàn cư trú trải dài và phân bồ rộng khắp từ vùng. thung lũng chân núi cho đến vùng trung du, rẻo cao.
Bởi địa bàn cư trú rộng, nên ảnh hưởng nhất định đến đặc điểm văn hoá, kinh tế, tín ngưỡng của người. Người Dao do nhiều nhóm nhỏ tạo thành. Tên gọi từng nhóm khác nhau như: Dao Đỏ (Dao Đại Bản), Dao Quần Chẹt (Dao Sơn đầu), Dao Lô. Tính phức tạp.
của sự đa dạng liên quan đến nhóm Dao có tác động phần nào vào văn hoá xã hội. Người Dao nói theo ba hệ ngôn ngữ chính là: Miêu Dao, Tai — Kadai va một số phương ngữ Trung, Ở Trung Quốc có khoảng 2.000 người Dao sinh sống. Vào thế kỷ. XVII, các nhóm Dao từ đảo Hải Nam, Trung Quốc đã trèo đèo lội suối di cư thành nhiều đợt vào Việt Nam [8,tr.
Cuộc di cư nảy kéo dải cho đến tận thé ky XX. Song thời kỳ di cư vào nước ta đông nhất là thời nhà Minh. Nguyên nhân của các cuộc di dân đó là vì hạn hán mắt mùa và đói kém liên tục, một phần nữa là bị áp bức bóc lột của tằng lớp địa chủ phong kiến. B Người Dao sống xen kế với người Hmông, Tay, Ning, Thai, Kinh.
đọc theo biên giới Việt = Trung, Việt ~ Lào, một số tỉnh trung du và miễn biển Bắc bộ. Người Dao sinh sóng trên cả ba vùng địa hình là núi cao, trung. du và đồng bằng, trong đó tập trung đông nhất ở vùng giữa. tên gọi khác như: Mán, Trại, Dao, Xá, Động.
Bên cạnh đó thì người Dao còn tự gọi minh là Kìm miễn, Diu miền (người sống ở rừng núi) Dựa trên gia pha một số dòng họ Dao còn để lại Nguyễn Khắc Tụng (1998) đã viết như sau: ~ Dao Quần Trắng vào Việt Nam khoảng thế kỷ XIII. Họ từ Phúc Kiến tới Quảng Yên, ngược lên Lạng Sơn, Cao Bằng, Thái Nguyên rồi tới Tuyên Quang, một bộ phân nhỏ xuôi về Vĩnh Phúc rồi ngược sông Hồng lên Yên Bái, Lào Cai và bộ phận này gọi là Dao Họ. - Dao Thanh Y đến Việt Nam cuối thế ky XVII. Ho tir Quang Đông vào Móng Cái qua Lục Ngạn tới sông Đuống rồi ngược lên Tuyên Quang.
Một số khác lên Yên Bái, Lào Cai về sau gọi là Dao. - Dao Đỏ và Dao Tiền từ Quảng Đông, Quảng Tây đến vào khoảng cuối thế kỷ XVII, hiện nay còn sinh sống ở Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hà Giang [26.96] Nguyên nhân của quá trình thiên di vào Việt Nam chủ yếu là tìm sinh sống. Sự nhập cư không mang tính ð ạt về số lượng cũng như về thời gian mà theo từng nhóm nhỏ lẻ, đi từ nhiều hướng khác nhau. Chính vì lẽ trên mà các nhóm Dao vào Việt Nam không cư trú dày đặc ở một khu vực lãnh thổ nao ma lai phan bố rải rác trên diện rộng thuộc nhiều tỉnh, huyện khu Đông 'Bắc và Tây Bắc (Bắc Bộ).
Bởi sự di cư thường xuyên trong cuộc sống nên đã 4 tạo môi trường tiếp xúc rộng với các dân tộc khác nhu: Tay, Méng, Ning, Cao Lan. Họ không bị mặc cảm xa lánh mà đễ hoà đồng, trao đổi cả văn hoá lẫn kinh tế xã hội với các dân tộc khác. Những năm gần đi , một bộ phận người Dao phân tán vào sinh sống ở khu vực phía nam, tập trung chủ yếu tại các tỉnh Đắc Lắc, Đồng Nai, Bình Dương, Bình Phước. Tuy cộng đồng người Dao bị chia nhé thành nhiều nhóm nhỏ và phân tán di các nơi để sinh sống nhưng tắt cả đều có sự thống nhất trong ngôn ngữ, không nhận thấy tính khác biệt mấy trong tiếng nói.
Mặc dù có sự phân chia thành nhiều nhóm Dao nhưng tắt cả đều tự nhận mình là con cháu của Bản Hồ. (Bàn Vương), một nhân vật lịch sử huyền thoại rất phổ biến và ngự trị ở vị trí tối cao đối với người Dao. “Trong gia đình đồng bào Dao việc nấu bếp, tô chức bữa ăn, quán xuyến việc nhà là do người phụ nữ đảm nhận. Những nhà đông người thi chia ra hai mâm.
Một mâm cho phụ nữ, người già, trẻ em ăn gần bếp lửa còn mâm kia. ngồi ở gian giữa gần bàn thờ cho nam giới. Tuy hai mâm không khác nhau về. thức ăn nhưng mâm nam giới thì sẽ có thêm rượu.
Người Dao có một số kiêng cữ trong ẩm thực. Các nhóm Dao không ăn. thịt chó vì đó chính là hình ảnh con vật thiêng Bàn Hồ (Thuỷ Tô), phụ nữ có thai và sau khi đẻ không ăn thịt lợn sẻ, thịt vịt, dê đực, các loại rau đẳng, canh. chua, măng, ớt.
Người Dao vốn rất mến khách, mỗi khi khách đến chơi thì họ đều mời ở lại ăn cơm cùng gia đình. Trước lúc ăn, có nước ấm rửa tay, sau khi ăn có người tiếp tăm, bưng nước chu đáo. Người Dao rất kiêng để đũa ngang qua bát khi ăn cơm xong, vì đó là dấu hiệu trong nhà sẽ có người chết. công đồng, kết cấu làng trong xã hội người Dao là rất cao.
Họ có tính đoàn kết, tương hỗ nhau trong lúc khó khăn, hoạn nạn. Mỗi làng có Is khoảng 20, 30 nóc nhà. Những làng sống xen kẽ với dân tộc khác thì có thể. lên tới 60 nóc nhà.
Thành phần cư dân trong làng cũng rất đa dạng, tồn tại đến hai, ba dòng họ khác nhau sống cùng. Tuy có nhiều họ nhưng không vì thế mà. mối quan hệ cộng đồng bị mờ nhạt. Nguồn kinh tế chính của người Dao dựa vào canh tác nương rẫy.
khai phá đất rừng làm nương rẫy, sau một thời gian gieo trồng, đất bạc màu. rồi lại bỏ hoang hoá. Địa thế đắt ở những nơi như sườn núi, sườn đồi thường. được chọn làm nơi gieo trồng, bởi tại đấy có đủ kiện ánh sáng cho cây.
trồng phát triển. Trồng trọt mang tính thời vụ ngắn ngày, không có tính. chuyên canh, chăm sóc áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất. Chăn nuôi hộ gia đình rất phát triển.
Nguồn thực phẩm chăn nuôi chủ yếu. mang tính tự cung tự cấp. Bên cạnh đó thì người Dao còn vào rừng thu hái lâm thổ sản là những thứ có giá trị kinh tế cao. Sản xuất thủ công như: đan đồ dùng, dệt vải, làm giấy.
đều là những. nghệ chuyên môn có tính truyền thống dân tộc. Người Dao rất giỏi trong việc làm súng kíp phục vụ cho săn bắn nên đã phần nảo cải thiện đời sống hàng. Họ đem trao đổi vật phẩm săn bắn được đề đổi lấy những vật dụng khác cho cuộc sống.
‘Tat cả các nhóm Dao đều biết làm giấy bản nhưng ở nhóm Dao Tiền và Dao Đó là phổ biến nhất. Nguyên liệu làm giấy được lấy từ cây vầu, nứa, trúc. non, rơm rạ, vỏ cây, nhựa cây vạt, rồi đem ngâm trong nước vôi trong và nấu với nước tro thật kỹ. Sau đó vớt ra ngâm sạch nước tro và giã nát, bỏ vào.
thùng gỗ hoà với nước lã cùng nhựa cây vạt khuấy đều cho quánh thành hồ. Dem trang hd that mong lên khuôn, để hơi khô rồi ép, phơi khô hẳn thành. Phương pháp làm giấy trên gần giống với cách làm giấy của làng Đông Thái - Bưởi, Hà Nội. Công đoạn tráng hồ lên mặt khuôn thì ở làng.
Đông Thái gọi là seo giấy. Người Dao dùng chính sản phẩm giấy này để viết 16 chữ nho hay vẽ tranh thờ, giấy có độ ben cao va rat ăn mực, để lâu không bị mờ. Các nghề thủ công Dao chưa phát triển mà chỉ mang tính chất manh mún, tự cung tự cấp, sản xuất theo mùa và nhỏ lẻ trong gia đình. Phong tục, tập quán, tín ngưỡng người Dao.
Gia đình người Dao theo chế độ phụ hệ. Mỗi gia đình thường có ba thể hệ gồm vợ chồng, con cái và ông bà. Chủ gia đình là người đàn ông, mang. trách nhiệm lớn nhất trong lao động sản xuất tạo ra của cải vật chất cũng như giữ mỗi quan hệ trong ngoài gia đình.
Tính chất phụ hệ và thứ bậc ở gia đình. người Dao thể hiện rõ trong quan hệ giữa các thành viên. Vợ nghe lời chồng, con cái nghe lời cha mẹ, em nghe lời anh chị. Quan hệ thứ bậc trong gia đình cũng là quan hệ trong tông tộc, điều này thể hiện rõ ở hệ thống tên đệm, căn cứ tên đệm người ta có thể phân biệt các thế hệ khác nhau trong số những.
người cùng lứa tuổi của gia đình và tông tộc. Tin ngưỡng ở người Dao còn nhiều tàn dư tôn giáo nguyên thuỷ với tam giáo đồng nguyên nhưng Đạo giáo có ảnh hưởng sâu sắc đến tín ngưỡng. của người Dao. Bên cạnh đó còn có cả yếu tố Phật giáo từ Trung Quốc đã ảnh.
hưởng trực tiếp đến dân tộc Dao và được họ thu nhận rồi cải biến đi cho phù hợp với điều kiện xã hội. Hầu hết các chủ đề tranh thờ dùng trong các nghỉ lễ của đồng bào đều biểu hiện thần linh Đạo giáo như Ngọc Hoàng, Diêm Vương, Thiên Sư, Tam Thanh. Tại các nghi lễ cúng tế, thầy cúng thường. dùng phép thuật, bùa chú đuổi tà ma và còn dùng cả tư tưởng kiếp luân hồi, ăn chay của nhà Phật.
Người Dao tin rằng vạn vật hữu linh, khi sinh vật, thực vật chết thì hỗn lia khỏi xác sẽ biến thành ma. Có hai loại ma: ma lành và ma dữ. gồm các ma tổ tiên, ma bếp, ma Bàn Vương, thần nông, thổ công, thé dia, Ngọc Hoàng thượng để, Tam Thanh, Tam Bảo, Tam Nguyên, Thiên Sư, âm 1 binh. ban phước lành đến cho mọi người.
Ma dữ như: ma sông, ma suối, ma. núi, rừng, cây hay ma của người chết đột tử, chết đuối. Ma dữ này thường, gây tai hoạ làm cho cộng đồng mắt mùa, gia súc chết, người m nên đồng bảo. thường xuyên tổ chức cúng bái để tránh sự quấy rầy của chúng, “Thờ cúng tổ tiên là nghi lễ thờ cúng chủ yếu đối với gia đình người Dao.
Bàn thờ Tô tiên cót lược cúng ở nhà tộc trưởng hay ở các gia đình. 'Quan niệm ở đồng bào Dao cho rằng khi ông bà, cha mẹ chết thì linh hồn vẫn thường xuyên có mối quan hệ với con cháu như lúc họ còn sống, nên con. cháu phải có nghĩa vụ cung cấp những vật dụng cần thiết cho sinh hoạt hàng ngày của tổ tiên. Thông thường họ thờ cúng tổ tiên dén 9 dời.
Ban thờ được.