Chương 1 BÓI CẢNH LỊCH SỬ VÀ TÔNG QUAN SƯU TẬP TƯ LIỆU ẢNH “CHU TICH HO CHi MINH VỚI HOẠT ĐỌNG VĂN HÓA. NGHỆ THUẬT GIẢI ĐOẠN 1951-1969” TẠI BẢO TANG HO CHi MINH. Bồi cảnh lịch sử Việt Nam giai đoạn 1951-1969 Từ đầu những năm 1950, nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa đã giành được những tháng lợi to lớn về chính trị, ngoại giao và quân sự. Vào thời gian này, các nước xã hội chủ nghĩa từ sau khi lập quan hệ ngoại giao đã ủng hộ về tỉnh thần và viện trợ về vật chất cho Việt Nam.
Các nước như Trung Hoa và Liên Xô trợ giúp vũ khí, khí tài cho Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Pháp. Trong khi đó, phía bên kia, Pháp được Mỹ hậu thuẫn. Tháng 5/1950 Mỹ quyết định chính thức viện trợ cho Pháp trong cuộc chiến tranh Đông. Dương, ủng hộ chính phủ “quốc gi ” Bao Dai.
Tuy nhiên với sự lãnh đạo của Đảng, của Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng sự nỗ lực phi thường của toàn dân tộc, cộng với sự giúp đỡ của các nước trong cộng đồng xã hội chủ nghĩa, cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam vẫn phát triển mạnh mẽ, làm thất bại những ý đồ chiến tranh của địch trong những năm 1951 - 1952. Dai hoi Dang Cộng sản Đông Dương lần thứ hai (1951) là cột mốc quan trọng trong tiến trình lịch sử cách mạng của nhân dân 3 nước Đông Dương: đại hội quyết định. tích Đảng Cộng sản Đông Dương để thành lập ở Việt Nam, Lào và Campuchia mỗi nước một đảng Mác - Lê nin riêng biệt, có cương lĩnh thích hợp với đặc điểm phát triển của từng dân tộc. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, trong giai đoạn này, cuộc kháng chiến của quân và dân ta đã liên tiếp giành được những thắng lợi quan trọng, mà trong đó chiến thắng Điện Biên Phủ là kết quả trực tiếp, cao nhất của cuộc chiến Đông.
Chiến thắng Điện Biên Phủ đã kết thúc oanh liệt cuộc tiền 16 công chiến lược Đông - Xuân 1953 - 1954 của quân và dân Việt Nam, đánh bại kế hoạch quân sự Nava, làm sụp đỗ niềm hi vọng của các giới quân sự và chính trị ở Pháp, làm xoay chuyển cục diện chiến tranh, tạo cơ sở cho cuộc đấu tranh ngoại giao thắng lợi ở Genève. Chiến thắng Điện Biên Phủ “đã được ghi vào lịch sử dân tộc như một Bạch Đằng, một Chỉ Lăng, hay một Đồng Đa ở thế kỷ XX, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công chói loi đột phá thành trì của hệ thống nô dịch thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc” [18, tr.123] Sau trận Điện Biên Phủ, các bên tham chiến đã họp tại Genẻve năm 1954 để tìm kiếm phương cách giải quyết chiến tranh. Kết quả Hiệp định Genève được ký kết với nội dung là đình chiến và tạm thời phân chia Việt Nam thành hai vùng tập trung quân sự lấy vĩ tuyến 17 làm giới tuyến quân sự tạm thời. Tuy nhiên, ngay sau khi Hiệp ước được kí kết, Mỹ đã dựng chính quyền Ngô Đình Diệm ở miền Nam Việt Nam, tiến hành viện trợ trực tiếp cho.
chính quyền này. Đến tháng 12/1954, Pháp kí hiệp định trao quyền hành chính, chính trị ở miễn nam cho Ngô Đình Diệm, quân Pháp cũng bắt đầu tiến hành rút dần ra khỏi Việt Nam. Đến năm 1955 thì chính phủ Pháp tuyên bố chấm dứt chế độ Cao ủy ở miền Nam Việt Nam, từ bỏ trách nhiệm phải thực hiện các điều khoản của Hiệp định Genẻve đặt ra. Với đặc điểm tình hình đất nước như vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ quan điểm *?zung, Nam, Bắc đều là bở cõi của ta, nước ta nhất định thông nhất, đồng bào cả nước nhất định được giải phóng”.
Nhu vậy, từ đây, đất nước ta bị chia cắt thành hai miền với hai chế độ chính trị khác nhau: miền Bắc đã hoàn toàn giải phóng và đi lên chủ nghĩa xã hội, còn miền Nam tạm thời bị đế quốc Mỹ và các lực lượng tay sai thống trị. Sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ của nhân dân trên cả nước còn chưa hoàn thành. Nhân dân Việt Nam vừa phải lo hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục kinh tế, đưa miền Bắc tiến dần lên chủ nghĩa xã hội, vừa tiếp tục 17 đẩy mạnh cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, tiến tới hòa bình thống nhất dat nước. Giai đoạn từ năm 1961 - 1965, nhiệm vụ của toàn thể nhân dân ta trong, giai đoạn cách mạng lúc này là tăng cường đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh giữ vững hòa bình, đấy mạnh cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miễn Bắc, đồng thời đây mạnh cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, thực hiện thống nhất đất nước trên cơ sở độc lập và dân chủ, xây dựng một nước Việt Nam.
hòa bình, thống nhất độc lập, dân chủ và giàu mạnh, thiết thực góp phần tăng cường phe xã hội chủ nghĩa và bảo vệ hòa bình ở Đông Nam Á và thể giới Nhiệm vụ cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc là nhiệm vụ quyết định nhất đối với sự nghiệp cách mạng của cả nước. Còn cuộc cách mạng ở miền Nam có ý nghĩa quyết định trực tiếp để đánh đổ ách thống trị của để quốc Mỹ và tay sai, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thực hiện hòa bình thống nhất đất nước. Trong giai đoạn này, nhân dân miền Bắc thực hiện thắng. lợi kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, tạo sự chuyển biến về nhiều mặt, “miền Bắc.
trở thành căn cứ địa vững chắc cho cách mạng Việt Nam trong cả nước với chế độ chính trị ưu việt, với lực lượng kinh tế và quốc phòng lớn mạnh”, Thắng lợi đó đã tạo cho miền Bắc cơ sở chính trị tỉnh thần và vat chất để tự bảo vệ, liên tiếp đánh thắng các cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ, đồng thời làm tròn nhiệm vụ cơ sở của cách mạng giải phóng miễn Nam. Giai đoạn 1965 - 1968, cuộc chiến tranh đặc biệt mà Mỹ tiến hành chống lại nhân dân ta ở miền Nam đã phát triển tới đỉnh cao và đứng trước nguy cơ thất bại hoàn toàn. Đề cứu vân tình thế, Mỹ ò ạt đưa quân viễn chinh cùng với vũ khí, phương tiện chiến tranh vào miền Nam, đây mạnh chiến tranh xâm lược ở miền Nam, chuyên sang chiến lược “chiến tranh cục bộ” ở. miền Nam và mở rộng chiến tranh phá hoại miền Bắc.
Như vậy, ở giai đoạn này, Đảng và Chủ tịch Hé Chi Minh lãnh đạo quân dân cả nước tiến hành 18 chống lại những âm mưu, thủ đoạn chiến tranh mới của Mỹ trên cả hai miễn Nam và Bắc. Ở miễn Bắc một mặt vừa phải tiến hành tiếp tục xây dựng chủ nghĩa xã hội, làm nghĩa vụ hậu phương đối với tiền tuyến miền Nam, vừa phải tiến hành chiến đấu chống lại chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của Mỹ. Giữa lúc cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta ở cả hai miền đất nước đang trên đà thắng lợi thì ngày 2/9/1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị lãnh tụ vĩ đại vô cùng kính yêu của giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam, người chiến sĩ lỗi lạc của phong trào công sản và công nhân quốc tế qua đời. Chủ tịch Hồ.
Chí Minh ra đi là một tôn thất lớn, không có gì có thể bù đắp đối với dân tộc ta, với Đảng ta, đối với cách mạng nước ta. Biến đau thương thành sức mạnh, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta ở hai miễn Nam - Bắc nguyện đoàn kết chặt chẽ xung quanh Ban chấp hành Trung ương Đảng, quyết tâm làm theo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, kiên trì và đẩy mạnh cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, tiến tới thống nhất nước nhà, ra site thi đua đây mạnh sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, góp phần vào sự của giai cấp công nhân và nhân dân thế giới. Tổng quan sưu tập tư liệu ảnh “Chủ tịch Hồ Chí Minh với hoạt động văn hóa nghệ thuật giai đoạn 1951-1969” tại Báo tàng Hồ Chí Minh 1. Một số khái niệm ~ Khái niệm Si tập Hiện nay, trong cuốn Đại Bách khoa thư của Liên Xô (cũ) đã giải thích thuật ngữ Sưu tập là “sự tập hợp có hệ thống một số lượng hiện vật cùng hoặc liên kết với nhau bởi nét chung của chủ đẻ” [18, tr.
Ngoài ra, thuật ngữ. này còn được đề cập trong cuốn Granđe Larouse của Pháp và giải thích như sau: “Sự liên kết của một đối tượng và được phân loại nhằm giáo dục, giải trí và sử dụng” [25, tr.194] 19 Bên cạnh đó, thuật ngữ Sư sập còn được giải thích trong cuốn Từ điển từ và ngữ Việt Nam là: “Sự tìm kiếm công phu và tập hợp lại những cái đã sưu tầm được theo hệ thống”. Nhu vay, theo một số cách giải thích trên đây cho thấy khái niệm sưu tập được hiểu là sự liên kết, tập hợp có hệ thống những đối tượng cùng loại bởi những. nét chung của chủ đề nhằm phục vụ cho mục đích giáo dục, giải trí và sử dụng.
“Thuật ngữ sưư sập cũng được sử dụng trong lĩnh vực khoa học bảo ting để chỉ ra các sưu tập hiện vật bảo tàng. Sưu tập hiện vật bảo tàng có vai trò quan trọng đối với sự hình thành và phát triển của mỗi bảo tàng. Quá trình xây dựng sưu tập hiện vật bảo tảng phụ thuộc vào chức năng, nhiệm vụ, mục đích và vai trò của bảo tàng ấy đối với xã hội. Vì vậy, mỗi sưu tập hiện vật đều có giá trị nhất định đề phục vụ cho mục đích của bảo tàng.
Sưu tập hiện vật bảo tàng càng lớn, phong phú, đa dạng thì làm cho vị trí của bảo tàng ấy càng quan trọng đối với xã hội. Vi vay, hiện nay khái niệm sưu tập hiện vật bảo tàng được đề cập khá nhiều trong các công trình bảo tàng học trên thế giới và Việt Nam. Sau đây là một số khái niệm: Các chuyên gia bảo tàng học của Công hòa Liên bang Nga đã viết: “Sưu tập hiện vật bảo tàng là toàn bộ những hiện vật khác nhau cùng chủng loại hoặc giống nhau về những dấu hiệu nhất định không kê mỗi hiện vật trong đó có giá trị văn hóa riêng được tập hợp lại đều có ý nghĩa lịch sử, nghệ thuật, khoa học hay van hoa” [25,tr.