phần mở đầu, kết luận, danh mục tham khảo và phụ lục luận vân được chia làm ba chương, 9 CHUONG I NGƯỜI THÁI Ở XÃ CHÂU TIẾN, HUYEN QUY CHAU TINH NGHE AN 1.1 Dieu kiện tự nhiên các vùng núi Nghệ An Miền núi Nghệ An là cả một hệ thống các dãy núi chạy song song theo hướng Tây Bác - Đông Nam có độ cao trung bình so với mật biền từ 800 — 000m. Những dãy núi cao nhất như Pu Xai Lai Leng (2.710m), Pu Rao Co (2.286m) nằm dọc theo hiên giới Việt - Lào đều được cấu tạo bởi đá xâm thực, có sườn đốc và dòng chảy chia cãt đữ dội. các đèo ở khu nay lại khá thấp làm cho sự đi lại giữa hai sườn đông (thuộc Nghệ An) và sườn tây (thuộc Lão) khá đễ dàng. thuận tiện cho các luồng di cu trong lich sử.
Trong khu vực, do biến động của địa hình phức tạp đã để lại mặt bằng của vùng đa dạng về đất đai, thổ nhưỡng, khí hậu, sông ngòi và cả nguồn động thực vật. Đặc điểm của vùng Trường Son bac là các đỉnh núi thường bị san bằng thành mặt cổ do cấu tạo từ rất lâu do điều kiện khí hậu nóng ẩm hầu như không có đao động lớn qua các thời kỳ địa chất. Các bể mật san bang này thường có độ cao từ 800 - 1000m hoặc từ 500 - 600m như hiện tượng vùng đổi trước núi. Hiện tượng này làm cho các đỉnh núi có độ cao sàn sàn nhau, tương đổi băng, trong lúc đó dưới sườn núi lại đốc hoặc rất dốc.
Cứ Ikm độ cao lại giảm 12m dốc. Hiện tượng này giải thích vì sao những quần động vật thích hợp với giới hạn vùng dân cư trong lịch sit. Nhung mat bang rong lớn của các khối đá bazan Nghia Dan, Quy Hop khác với những "bốn địa” của những thung lũng rộng lớn ở Quỳ Châu, Quế Phong, Tân Kỳ, Con Cuông. Sông suối ở vùng này chảy trong vùng có địa hình phức tạp.
Mạng lưới sông suối kiểu hình chỉm hay cành cây là phổ biến nhất ở khu vực được cấu tạo bằng đá phiến. đá cát và đều có hướng phổ biến tây bác - đông nam với 10 các chỉ lưu đày đặc, tạo nên nhiều thác nghềnh hiểm trở theo hướng núi. Những thung lũng được tạo ra do sự xâm thực của sông suối và bào mòn nói chung đã thu hút được các điểm quần cư quan trọng với việc trống lúa nước. Hoạt động kinh tế của cư dân vùng này chủ yếu tập trung theo các thung lũng sâu, dọc triển sông hoặc đầu nguồn các khe suối.
Các con sông ở đây có sông Lam hay còn gọi là sông Cả xưa, có tên gọi là sông Rum (màu lam) hay sông Thanh Long bat nguồn từ ngã ba Ctra Rao thuộc địa nhận huyện Tương Dương chảy qua Con Cuông, Anh Sơn, Đô Lương đồ về Bến Thuỷ dài hơn 200km. Sông Lam được hợp bởi hai con sông nhỏ la Nam Mộ và Nậm Nơn cùng nhiều phụ lưu khác. Phần thượng nguồn dòng chảy xiết, lãm nghềnh thác, mùa mưa nước thường duc, nước dang cao do thượng nguồn và từ Lào đổ vẻ. Trái lại, mùa mưa nước rất trong, mực nước hạ thấp.
Sông Lam nổi tiếng về lắm cá tôm, nguồn thực phẩm quan trọng đối với cư dan dọc hai bên triển sông. Thời trước, sông Lam là phương tiện giao thông thuỷ chủ yếu trong việc vận chuyển các nhu yếu phẩm từ xuôi lên ngược phục vụ bà con các dân tộc thiểu số vùng đường 7A. Ving ding 48B có sông Con chảy từ vùng Tân Kỳ, Nghĩa Đàn đổ vào sông Lam tại địa phan Anh Son. Sông Hiếu cháy qua địa phận các huyện Quỳ Châu, Quỳ Hợp.
Sông Giang chảy từ đông Trường Sơn qua xã Môn Sơn đến Vều đổ vẻ xuôi. sông Giang có giá trị thuỷ điện lớn lại nhiều tôm, cá. Ngoài ra, vùng núi Nghệ An còn có nhiều sông suối nổi tiếng nhiều cá như: Nạm Mộ, Năm Nơn, Nam Kién, Nam Chang. Khí hậu ở vùng này rất đa dạng.
Bên cạnh đạc điểm chung là nóng ẩm, các tiểu vùng ở vùng thấp và vùng cao có nhiệt độ trung bình khá chêng lệch. Vùng núi cao từ 800m trở lên đã bát đầu xuất hiện khí hậu á nhiệt đới, thâm il chí một vài nơi như Kỳ Sơn có cả khí hậu ôn đới. Sự luân chuyển giữa hai mùa mưa và khô tác động nhiều đến điều kiện tự nhiên của vùng núi. Ở các huyện vùng cao.
do ảnh hướng độ cao của một số ngọn núi và các thung lũng giữa vùng núi làm cho khí hậu đa đạng với nhiều tiếu vùng. Nhiều nơi nhiệt độ trung bình là 10°C, có lúc xuống thấp 0C. Vùng lòng chảo mường Lống ( Kỳ Son) rong trên SUha có khí hậu giống Sa Pa, Tam Đảo. Vùng này sương muối xuất hiện nhiều lần trong năm, ảnh hưởng đến trồng trọt và chãn nuôi gia súc.
Mùa mưa ở đây kéo dài từ tháng 6 đến tháng 10. Gió Tây (gió lào) thường kèm theo giông lớn vào dip đốt nương, rấy. Lượng mưa hàng năm từ 1500mm trở lên, có nơi 3000mm. Lũ lụt đột ngột dữ đội, gây xói mòn và rửa trôi mạnh.
Mùa khô từ tháng 11 năm trước đến thắng 4 năm sau. ít mưa, sông suối cạn, gió mùa đông bác tràn về, khí hậu lạnh. Miền núi Nghệ An năm giữa vùng núi Trường Sơn bác là nơi sạn gỡ của nhiều đại diện thực vật từ Hymalaya qua Vân Nam lan xuống và từ Malaysia, Indonesia lên. Khí hậu ở Nghệ An nóng nên kiểu rừng núi nhiệt đới phát triển mạnh.
nhất là ở độ cao từ 800m trở xuống. Lên cao hơn có kiểu rừng nhiệt đới có rêu. Tập đoàn thực vật quý hiểm ở vùng này được coi là có giá trị kinh tế cao so với cả nước. Õ những vùng có lượng mưa ít như Mường Xén (Kỳ Sơn).
Cửa Rào (Tương Dương) có kiểu rừng rụng lá và rừng thứ sinh. từ những năm 70 trở về trước, đây là vùng rừng chưa bị tàn phá, thảm thực vật còn dày, động vật cũng phong phú, nhất là các loài thú lớn và quý như voi, bò rừng, gấu, hổ, sao la. đại diện cho lớp động vật cổ còn khá nhiều. Môi trường sinh thái thuận lợi cho sự phát triển của các giống loài động vật phong phú chính là điều kiên sống thuận lợi cho các cư dân từ thời cổ đại cho đến nay.
Khả nang vé mat nông - lâm nghiệp dồi dào. tiềm nang cong nghiệp lớn. Do cấu trúc địa chất phức tạp cho nên nguồn khoáng sản ở đây càng đa dạng. 12 _ Ở các đường đứt gẫy sóng Cả có nhiều mỏ quý như sắt, mãng gan, than (khe Bồ - Tương Dương), thiếc (Quỳ Hợp), đá ruhi (quỳ Châu)v.
Môi trường tự nhiên vùng núi Nghệ An trong lịch sử là môi trường sống cho con người rất thuận lợi. Vì thế trong lịch sử hình thành con người ở khu vực Đông Nam Á, đáy là một trong những vùng trung tâm của quá trình *sapiên hoá”, là quê hương của nghề trồng lúa nước, là vùng van hoá tiêu biểu với những chiếc trống đồng nổi tiếng thời văn hoá đồ đồng. Nhưng bén cạnh những yếu tổ thuận lợi trên, do điều kiện địa hình, đất đai, khí hậu phức tạp, nên những khó khan đổi với cư dân trong vùng cũng không nhỏ. Đây là vùng núi non hiểm trở, thời tiết thất thường và khắc nghiệt, lũ lụt và hạn hán thường xuyên đe doa.
Các cư dân ở miền núi Nghệ An dù có nguồn gốc khác nhau. song họ đều là những người khai phá và cải tạo vùng đất này, Trải qua nhiều biến động lịch sử, sự xáo động về thành phần cư dân khiến cho đến nay người ta vẫn chưa thể dựng lại được bức tranh phân bố cư dân một cách liên tục trong hàng nghìn nãm trước đây tại vùng đất này. Nhưng điều có thể tin được là vùng đất này, vùng đất từng có con người sinh sống từ lâu đời và các lớp cư dân ở đây đã tạo nên một vùng vân hoá khó có thể trộn lẫn với các vùng đất khác. Ngày nay, các tộc người thiểu số trong vùng tương đối ổn định về địa bàn phân bố.
Ngoài bộ phận khá lớn chiếm khoảng nửa số dân của khu vực là người Kính ở các thị trấn, nông lâm trường là khối đồng bào Thái. HMông, Khơmú, Thổ và ODu. Những yếu tổ quan trọng về điều kiện tự nhiên của vùng núi Nghệ An đã có ảnh hưởng lớn đến phương thức canh tác, các hoạt động kinh tế - xã hội của con người như môi trường sinh thái khu vực đang đứng trước tình trạng hị de doa, rimg ngày càng bị cạn kiệt do khai thác bừa bãi, làm nương rẫy. Con 13 người là một thực thể xã hội nằm trong tự nhiền, chịu sư tác động của tự nhiên, vì thế, do môi trường tự nhiên biến động, con người ở đây phải hết sức khé khan để thích nghi, hoà nhập và cải tạo tư nhiên.
Trong quá trình chung sống với tự nhiên và sự hoà hợp với các cư đân đã tạo nên cho miền núi Nghệ An nét riêng biệt văn hoá và tính tộc người độc đáo của nó. Người Thái ở các huyện miền núi tỉnh Nghè An I. Vài nét vé xự hình thành các nhóm Thái ở Nghệ An Nghệ An là tỉnh có người Thái tụ cư tương đối đông đúc, nhất là ở các huyện phía Tây của tính. Đây là vùng văn hoá Thái còn bảo lưu được những yếu tố đạc trưng của tộc người, đồng thời có những đặc thù của địa phương do điều kiện sống và quá trình giao tiếp văn hoá với các cư dân cân kể.
Người Thái ở Nghệ An chiếm khoảng 2/3 số dân của các dân tộc ít người ở miền núi Nghệ An. phân hố chủ yếu ở dọc vùng đường 48 thuộc các huyện Quế Phong, Quỳ Châu, Quỳ Hợp. Khác với người Thái ở các tỉnh miền núi phía Bắc, người Thái ở miền núi Nghệ An có tới 4 nhóm địa phương khác nhau. Nhóm Thái ở huyện Quỳ Châu tự nhận mình là Thái trắng.
Có một số ý kiến cho rang: Người Hàng Tổng di cư từ Tây Bắc vào Nghệ An. Thần phả đền 9 gian ở Mường Nọc ( Quế Phong ) còn ghi lại rằng: Cấm Lữ, Cầm Lan đất người Thái từ Tây Bắc vào Quy Chau, cho đến nửa cuối thế kỷ 14 họ Sầm đã 17 đời làm thể tập tạo Mường. Từ nửa sau thế kỷ 14 cho đến Cách Mạng Thàng 8, dòng họ Sầm chỉ được thế tập làm 7 đời châu húa, chăm sóc phan hồn của bà con Thái mà thôi. Như vậy nhóm Hàng Tổng vào Nghệ An khoảng trên 600 nam.
Nhóm Tày Mười: Nhóm này vào Nghệ An muộn hơn, vào khoảng nửa đầu thế kỷ 15. Nhóm Tày Mười có nguồn gốc từ Mường Muôi.