mở đầu vào mùa. Ra giêng ăn tết xong, khí hậu ấm áp dần lên. Cây cối bắt dau dam choi nảy lộc. Đó cũng là lúc các phường săn chuẩn bị phương tiện và chọn ngày tốt để tô chức cuộc săn.
Hiện nay, người dân Thanh Đình chủ yếu sống bằng nghề nông. Ngoài việc làm nông nghiệp, dân cư Thanh Đình còn một số nghề phụ như: chăn nuôi, làm gạch thủ công dịch vụ và buôn bán nhỏ. Có thể nói người dân Thanh Dinh rat năng động, sáng tạo, dựa trên nền tảng sản xuất nông nghiệp để làm một nghề thủ công khác như làm mì miến, làm bánh. chưng, bánh rậm.
Cũng như các làng quê khác ở trong tỉnh, Thanh Đình trong những năm gần đây có những biến đổi đáng kể, mang lại bộ mặt mới cho một vùng quê có bề dày lịch sử. Trong điều kiện cả nước đang chuyển mình trong thời kỳ mở cửa, với sự đổi mới về kinh tế, chính trị, xã hội Thanh Đình đã có những bước tiến bộ, xã có tủ sách, bưu điện, nhà văn hoá. Toàn bộ đường làng ngõ xóm đã được bê tông hoá, 80% số hộ được Nhà nước công nhận là gia đình văn hoá. Nhân dân xã Thanh Đình tuyệt ï tin tưởng vào.
chủ trương chính sách của Đăng, Nhà nước. Đời sống văn hoá. Là vùng đất cỗ nên cư dân Thanh Đình có truyền thống văn hoá lâu đời. Đời sống văn hoá của cư dân Thanh Đình rất phong phú với những phong.
tục tập quán điển hình của làng quê cổ truyền. Đó là những tục lệ cưới xin, ma chay, gid chap, khao lão + Về tập tục cưới hỏi: Cũng như nhiều làng quê khác, phong tục cưới hỏi ở Thanh Đình khi xưa cũng bao gồm ba giai đoạn chính, đó là chạm ngõ, ăn hỏi và cưới. Lễ chạm ngõ được tiến hành vào buổi tối, lễ vật trong buổi chạm ngõ chỉ gồm cơi trầu ( khoảng 15 - 20 quả cau và vài ba lá trầu). Nếu cha mẹ cô gái đồng ý thì họ sẽ thách cưới.
Lễ ăn hỏi: Nhà trai mang đầy đủ những lễ vật mà nhà gái đã thách cưới đến.Sau khi nhận lễ của nhà trai, nhà. gái chia lại cho nhà trai mỗi thứ một ít gọi là "lại quả". Những ngày sau, nhà gái mang những đồ thách cưới do nhà trai mang đến chia quà cho họ hàng, làng xóm để báo tin là con gái họ sắp lấy chồng và mời họ đến dự. thời gian từ ăn hỏi đến lễ cưới có thể kéo dài khoảng vài tuần, vài tháng (tuỳ theo gia đình hai bên tìm được ngày đẹp để tiến hành hôn lễ).
cưới được tiền hành khi rước dâu vẻ nhà trai.Trong lễ cưới, cô dâu và chú rẻ phải ăn chung miếng trằu, uống chung một chén rượu, cầu nguyện được sống. cùng nhau đến đầu bạc, răng long. + Về việc tang lễ: Trong làng xã, nhà ai có người qua đời, người trong. làng đều đến giúp.
Nhà nào có người ốm sắp mắt thì con cháu về trông nom. và họp bàn quây quần đông đủ. Sau khi người ốm tắt thở, người con trai trưởng thắp đèn hướng lên bàn thờ tô tiên, khấn vong linh tổ tiên về đón linh hồn người mới chết về hội tụ với vong linh tổ tiên. Khi khâm niệm người chết, tang chủ thường mời nhà sư làm lễ.
Sau đó, dòng họ và làng xã đến viếng. Quan tài người chết đặt ở gian chính giữa, có con cháu thay nhau túc trực. Thông thường, đám ma tổ chức ba ngày, sau đó mới đưa ra nghĩa trang của làng chôn cắt. Trong thời gian tổ chức đám ma, tang chủ phải làm cỗ mời những người trong họ và làng xóm đến ăn.
Ngày nay, thực hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước về xây dựng phong trào nếp sống văn hoá mới, xã Thanh Đình đã xây dựng được những. quy ước làng văn hoá, những phong tục tập quán lạc hậu, rườm rà dần được. giản tiện, loại bỏ song vẫn giữ được nét đẹp văn hoá truyền thống vốn có từ lâu đời. Trong cưới xin, vẫn giữ được ba lễ chính đó là lễ chạm ngõ, lễ ăn hỏi, 18 cưới, nhưng việc thách cưới của nhà gái chỉ mang tính hình thức, trong lễ cưới không còn ăn uống linh đình, tốn kém.
Hiện nay, nhiều gia đình đã tô chức lễ cưới theo nếp sống mới, trang trọng, tiết kiệm. Đặc biệt, trong việc tang, thi hai không để quá dài ngày, nhiều hủ tục lạc hậu được bãi bỏ. + Về tín ngưỡng tôn giáo và đời sống văn hoá tâm linh, dân xã Thanh Đình thờ thành hoàng, the thin trong tin ngưỡng dân gian, thờ phật và thờ ông bà tô tiên. Điều đó được thể hiện thông qua các hệ thống di tích lịch sử.
văn hoá trong làng xã và những nơi đáp ứng cho nhu cầu sinh hoạt văn hoá tâm linh của người dân nơi đây. Lễ hội truyền thống có vai trò quan trọng. trong đời sống tâm linh của người dân Thanh Đình. Lễ hội là ngày hội chung.
của xóm làng, dòng họ, của mỗi gia đình, là thời điểm nghỉ ngơi quý báu để tận hưởng thành quả lao động và dâng lên thánh thằn những sản phẩm, sản vật của quá trình lao động hằng ngày bày tỏ lòng thành kính sâu sắc. Việc tế lễ thể hiện sự kính trọng của dân làng đối với những bậc thánh thản, những người có công trợ giúp dân Thanh Đình ngày càng phát triển, những giá trị văn hoá đó có thể thay đổi theo thời gian, song đó chỉ là sự thay đổi cho phù hợp với bước tiến của xã hội. Tuy nhiên nó không thể thiếu được trong đời sống tâm linh của nhân dân Thanh Đình. Đình Thanh Đình.
Các vị thần được thờ trong đình Thanh Đình Từ lâu, việc thờ tự và tưởng nhớ những vị tiền nhân có công với dân với nước đã trở thành nét đẹp văn hoá của dân tộc Việt Nam. Cả nước thờ một ông tổ chung, trong làng xã thờ thành hoàng làng. Thành hoàng làng là những vị thần cai quản, che chở, giúp người dân trong việc sinh sống và làm ăn. Vị thần này được thờ trong những ngôi đình làng của người Việt, là chỗ dựa tỉnh thần, niềm tin thiêng liêng cho công đồng dân cư làng xã từ bao đời nay và luôn ở trong tâm thức sâu kín của người dân trong làng.
Thành hoàng làng là biểu tượng quyền lực tính thần tối cao của một làng, chỉ phối đời sống tỉnh thần của người dân, được người dân tôn thờ, ngưỡng vọng và gửi gắm niềm. tin của mình. Thành hoàng còn là biểu hiện của lịch sử, phong tục, đậo đức, pháp lệ cùng hy vọng chung của cả làng và cũng là một thứ uy quyền siêu việt, một mối liên lạc vô hình, khiến cho hương thôn thành một cộng đồng có. tổ chức và hệ thống chặt chẽ [2, Tr232].
Mỗi làng xã có thể thờ một hay. nhiều vị thành hoàng làng. Dù thờ một hay nhiều vị thành hoàng làng thì các vi th iy déu được dân làng tôn thờ với một lòng thành kính Đình Thanh Đình thờ Tản Viên Sơn Thánh và Quý Minh Đại Vương, đây là hai vị tướng thời Hùng Vương đã có công giúp vua Hùng trong cuộc giao tranh Hùng - Thục. Tìm hiểu về sự tích các vị thần, chúng tôi căn cứ vào.
các thần tích, sắc phong các vị thần. Hiện nay, trong đình Thanh Đình còn một cuốn sách chữ Hán gồm 8 tờ, 16 trang có 25 bài lễ tế, lễ cúng. có ghỉ: "Thừa sao Bảo Đại năm thứ 19 (1944) Giáp Thân, ngày 3 tháng Giêng, phụng diệu tế thần, văn nghi tiết cập xuân thu, tế thánh hiền văn võ liệt vu tả, dĩ cánh. quan hiền" có bản phiên âm viết bằng tay kèm theo; Một cuốn thần tích chữ: Hán gồm bảy tờ được viết vào năm Thuận Thiên thứ 3(1430), được sao lại năm 1857, hiện lưu tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Hà Nội.
Tân Viên Sơn Thánh “Thời Hùng Vương thứ 18, ở động Lăng Xương (xã Trung Nghia) có vợ chồng. ông bà Lê Huý Hàn và Định Thị Hiên Hoa sinh được một người con trai đặt tên là Nguyễn Tuắn. Tuấn thông minh hơn người, văn võ kiêm toàn. Sau khi cha mẹ mắt, Tuấn làm con nuôibà động chúa Ba Vì.
Được ít lâu bà mẹ nuôi qua đời, Tuấn được giao cai quản vùng núi Ba Vì, càng ngày cậu. cảng trưởng thành và có nhiều tài lạ được các lạc dân trong vùng quý mến. 'Núi có ba ngọn, ngọn cao nhất có tên là núi Tân và Tuấn là thủ lĩnh vùng nay nên được tôn là động chủ hay còn gọi là Sơn Tỉnh Một ngày kia, nghe tin Hing Dug Vuong lap lau kén rễ ở gò Tiên Cát, Sơn Tỉnh bèn so tài cùng với Thuỷ Tỉnh, hai bên không phân thắng bại, Vua Hùng bèn phán: " Sáng mai, ai mang lễ vật voi chín ngà, ga chin cya, ngựa chin hồng mao đến trước, ta gả My Nương cho". Sơn Tỉnh là người mang lễ vật đến.
trước và được Hùng Vương cho sánh duyên cùng Ngọc Hoa. Hùng Vương thứ. 18 không có con trai nối dõi nên có ý định nhường ngôi cho Sơn Tỉnh. Nghe tin đó Thục Phán( bộ chủ thuộc bộ Âu Việt)) cất binh chia thành năm đạo tiến.
Vua Hùng bèn gọi Sơn Thánh hỏi kế đánh giặc và cuộc giao tranh Hùng ~ Thục xây ra. Sơn Tỉnh cùng một số tướng tài như Cao Sơn Quý Minh cùng. nhau sát cánh giúp Hùng Duệ Vương đánh trừ quân Thục. Thanh Đình là nơi Sơn Thánh cùng các tướng lĩnh cầm quân đánh giặc nên sau này ghỉ nhớ công ơn mà dân làng lập đình thờ phụng hương khói muôn đời.
Quý Minh Đại Vương, Thời Hùng Vương thứ 18, đóng đô tại Bạch Hạc, Việt Trì, dựng nước quốc hiệu là Văn Lang, đô ấp là Phong Thành. Nhà vua là bậc đại lược hùng. tài, thông minh thánh triết, kế nối tổ tông bồi đắp cơ đồ, thịnh trị 17 đời, trong. thì sửa sang văn đức, ngoài thì phòng bị biên cương, dốc chí mười toan giữ yên trong nước.
Đương thời khi ấy, nước Việt ta ở đạo Thanh Hoa (Ai Chau), có ông họ Lê, huý là Cao Tung, bà vợ họ Nguyễn, huý là Vi. Họ sống bằng. nghề đốn củi, luôn cố gắng làm điều thiện, dù một việc nhỏ cũng làm, một tắc hại người cũng không dám, không chút lòng vị kỷ, mọi người trong vùng đều. khen là gia đình tích đức, ất được hưởng phúc dồi dao.
Bay giờ, ông Lê đã ngoài 50 tuổi, bà vợ đã ngoài 40 mà chưa sinh được con trai. Nhân một lần vợ. chồng đến trại ở động Lãng Sương, phủ Gia Hưng, xứ Sơn Tây chặt củi.