Chương I: Tông quan về làng Trà Đông. Chương 2: Nghề đúc đồng làng Trà Đông. Chương 3: Thực trạng nghề đúc làng Trà Đông hiện nay: và những vấn đề đặt ra Chuong 1 TONG QUAN VE LANG TRA DONG 1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ ĐỊA LÝ HÀNH CHÍNH.
Làng Trà Đông nay thuộc xã Thiệu Trung, huyện Thiệu Hóa, tỉnh “Thanh Hóa. Từ Hà Nội, du khách có thẻ đến làng Trà Đông bằng nhiều hướng. Hướng thứ nhất: theo Quốc lộ 1A, đến thành phố Thanh Hóa, rẽ phải vào Đại lộ Lê Lợi, qua cầu vượt Phú Sơn vào Quốc lộ 45, đi khoảng 12km. là đến làng Trà Đông.
Làng nằm ngay bên tay trái Quốc lộ 45 (hướng đi về trung tâm thị trấn Thiệu Hóa), Hướng thứ hai: theo đường sắt íc - Nam, đến ga Thanh Hóa, đi qua đường Dương Đình Nghệ khoảng 500m, sau đó đi qua cầu vượt Phú Sơn, vào Quốc lộ 45 để đi tiếp như con đường nêu trên Làng Trả Đông ở ngay đầu huyện Thiệu Hóa, tiếp giáp với các đơn vị dân cư sau ~ Phía Bắc giáp kênh Nông Giang và Quốc lộ 45. ~ Phía Nam giáp sông Nhà Lê và làng Nam (thôn 3 và thôn 4) của xã “Thiệu Trung và một phần xã Đông Thanh của huyện Đông Sơn ~ Phía Đông giáp xã Đông Thanh (huyện Đông Sơn) ~ Phía Tây giáp làng Bắc (thôn 1) thuộc xã Thiệu Trung. “Trà Đông nằm trên đầu mối giao thông thủy bộ thuận lợi. Phía Bắc là Quốc lộ 45 thông thương giữa huyện Thiệu Hóa với thành phố Thanh Hóa, các huyện Đông Sơn, Yên Định.
Với địa thế này, Trà Đông có những điều kiện thuận lợi cho giao lưu và phát triển kinh tế - văn hóa Bang 1: Diện tích các loại đất của làng Trà Đông. trước năm 1945 và hiện nay TT Loại đất Trước 1945 | Tỷ lệ (%) | Hiện nay | Tỷ lệ (ha) (%) 1 |Thổ cư 9.70 $4 4 | Công trình công cộng | 0.75 100 1088 | 100 Nguồn: Số liệu trước năm 19435 là ước tính, số liệu thẳng kê hiện nay do Uỷ ban nhân dân xã Thiệu Trung cung cấp. LỊCH SỬ HÌNH THÀNH LÀNG. Trải qua quá trình lịch sử lâu dài với nhiều lý do khác nhau, nguồn tài liệu về làng đã bị thất lạc.
Tuy nhiên căn cứ vào một số tài liệu thông sử, gia pha, van bia, địa danh. , c6 thể khẳng định, Trà Đông là làng quê hình thành từ sớm. Các ết quả nghiên cứu Khảo cổ học đã xác định, vào thời đại ông thau, cách ngày nay trên 3500 năm, lưu vực sông Mã và sông Chu đã trở thành trung tâm cư trú của người Việt cô trên đất Thanh Hóa. Cư dân nơi đây đã biến đầm lầy, cồn hoang thành những vùng đất màu mỡ để xây dựng những xóm làng đầu tiên.
Đó là tiền để để họ sáng tạo ra nền văn hóa Đông. Đóng góp một phần vào thành tưu đó, chắc chắn không thể thiếu vai trò của những cư dân Việt cổ Trà Đông. Những công cụ được tìm thấy ở xã Thiệu Dương như rìu đồng, lưỡi cày đồng, lưỡi cày cánh bướm, liềm đồng, chứng tỏ một nền nông nghiệp dùng cày bằng kim loại đã ra đời và phát triển. Đồng thời, các nhà khảo cổ còn tìm thấy nhiều xương và đầu trâu, cùng những dấu vết của nền nhà, bếp đun.
Như vậy, đến thời điểm này, trâu bỏ đã trở thành một vật nuôi quen thuộc trong mỗi gia đình, không chỉ đem lại cho con người một nguồn lương thực, thực phẩm đáng kể mà là nguồn sức kéo quan trọng đối với nghề trồng lúa nước. Những kết quả khảo cổ đã khẳng định Trà Đông (Kẻ Chẻ) nằm trên một vùng đất cổ. Di chi nai Do - xã Thiệu Tân, nơi để lại nhiều dấu vết của người 'Việt cổ trong quá trình khai phá và chinh phục đồng lầy đều nằm trên vùng. đất Thiệu Hóa và cách Trà Đông không xa.
Chứng tỏ, bấy giờ Trà Đông đã có. con người sinh sống theo hình thức nhóm họp thành một vải tụ điểm dân cư. Rất có thể chính họ là chủ nhân của nền Văn hóa Đông Sơn? Chắc chắn họ cũng đóng góp một phần công sức của mình vào công cuộc mở rộng đất đai, xây dựng xóm làng trong buổi bình minh của lịch sử đân tộc. Xét về mặt tên gọi của làng, ban đầu có tên gọi là Ké Chẻ.
Các nhà Dân tộc học và Sử học đã chứng minh, các làng có tên gồm thành tổ “Kẻ đi cùng, một tên Nôm khác, thường khó xác định chính xác ngữ nghĩa là những làng cổ, hình thành trước hoặc cùng với quá trình đựng nước của các Vua Hùng, tương ứng với thời kỳ Văn hóa Đông Sơn rực rỡ. Vào giai đoạn nảy, người Việt cổ trên đất Thanh Hóa đã tràn xuống định cư bên bờ các dòng sông lớn. Cuộc sống trở nên phong phú, dân cư đông đúc. Lúc này địa danh hành chính cơ sở Việt cổ có từ “Kẻ” đã xuất hiện và phân bổ khắp các vùng Bắc Bộ và Bac Trung Bộ.
“Kẻ chính là tiền thân của làng sau này, cũng là làng Việt cổ, "hình thành trên cơ sở giải thể các công xã nông thôn hay những tổ chức tương tự của thời nguyên thủy” J42, tr 150]. “Kẻ Chè nằm trong một vùng của các Kẻ: Kẻ Ry, Kẻ Bôn, Kẻ Bôn, Kẻ Chẻo, Kẻ Lang, Ké Bin, Ké Mo, Ké Chom, Kẻ Giàng. Chưa có vùng nào trong tinh Thanh tập trung dày đặc các Kẻ như. Như vậy, ở Thanh Hóa những làng quê có tên nôm là “Kẻ”.
xuất hiện khá nhiều và lẽ dĩ nhiên đều được hiểu là một vùng đất cỗ kính có niên đại khá sớm khoảng trước thế kỷ thứ X. Đến thể kỷ thứ X, một tên gọi mới mang ý nghĩa hành chính ra đời: giáp Bối Lý. Căn cứ ảo cứ liệu thông sử, từ khi đất nước. ai được quyền tự chủ, Khúc Hạo đã cho đổi hương thành đặt mỗi giáp một quản giáp và một phó tri giáp để trông coi việc đánh thuế.
Như vậy, sự kiện này lý giải được phần nào lý do đổi tên làng. Đồng thời cho thấy sự phát triển không. ngừng về quy mô diện tích và dân số, là cơ sở đề làng trở thành một đơn vị hành chính cấp xã (tương đương cắp hương). Cũng trong giai đoạn này, nhà Tiền Lê, Lê Hoan cho đảo con sông và.
đặt tên là Sống nhà ể, khởi thủy từ thôn Đồng Cổ, thuộc làng Đan Nê, xã 'Yên Thọ, huyện Thiệu Yên (nay là huyện Yên Định). Sông này đã cắt mảnh đất giáp Bối Lý trước đây thành hai phần, một bén la Ké Ry (nay la lang Phi Lý) và một bên là Ké Chẻ (nay là làng Trà Đông). Các bậc cao niên trong. làng kể lại rằng, vì nước sông này thơm như nước chè, Vua Lê ngự thuyền tại bến ở làng Trà Đông hiện nay, nên làng gọi là làng Chè (1).
Căn cứ vào những dấu vết hiện còn, những câu chuyện dân gian truyền miệng, trong giai đoạn này, vùng đất Cửu Chân được cai quản bởi Lê Lương, một nhà cự tộc. Vậy trước Lê Lương, dòng dọ này có nhân vật nào, họ có vị trí và vai trò gì trong lịch sử dân tộc? Để lý giải điều nảy, chúng tôi đã dựa vào những cứ liệu thông sử, văn bia, tư liệu của địa phương để tìm nguồn gốc dòng họ Lê thời kỳ trước thế kỷ thứ X, điều này cũng tìm hiểu lịch sử làng Trà Đông trong buổi đầu hình thành. Dưới thời Bắc thuộc, nước ta chịu sự đô hộ của các Triều đại phong. kiến phương Bắc.
Cho đến cuối thời nhà Tùy, thái thú Cửu Chân là Lê Cốc - hiệu là Lê Ngọc (thuộc một dòng họ Lê vốn có gốc từ đời Tấn Vĩnh Gia bên Trung Quốc). Lê Cốc sang làm quan ở Cửu Chân, lấy vợ người gốc Việt, sinh. được 3 con trai và 1 con gái. Khi Luơng Tiêu xưng dé diệt nhà Tùy, Lê Ngọc không chịu nên đã cùng các con trai, con gái chia bình đắp thành ở Đông Phố (Đồng Pho - Đông Hòa) chống lại nhà Lương trong 3 năm trời.
Đường tiêu diệt nhà Lương Tiêu, Lê Ngọc tiếp tục chống nhà Đường và ông, chết hai năm sau đó. Lê Ngọc và các con được thờ làm thành hoàng ở nhiều. nơi trên đất xứ Thanh. Ông được tôn xưng là Cao Hoàng và được thờ ở nghề Sâm (làng Viên Khê, xã Đông Anh, huyện Đông Sơn) [14, tr 24 - 25] Như vậy, viễn tô họ Lê ở Kẻ Ry - Kẻ Chè đã gắn bó với mảnh đất Cửu.
Chân từ thế kỷ thứ VII. Đó là cơ sở để đến hậu duệ họ Lê là Lê Lương (thế kỷ. X) vẫn là nhà đại cự tộc ở đất Châu Ái. Đồng thời, ông cũng chính là nhân vật đặt nền móng cho vùng đất này, phát triển nông nghiệp và thu hút các dòng họ khác về đây sinh sống.
Lê Lương cùng với cư dân nơi đây, gây dựng cải tao vùng đất cũ rộng và trủ phú hơn, dan số tăng nhiều hơn. Do vậy, phương. ngôn của làng có câu “đất họ Lê, nghề họ Vũ” là để khăng định công lao to lớn của dòng họ Lê Lương trong quá trình tạo dựng nên làng 'Hầu hết các nguồn tài liệu đều cho rằng đầu thế kỷ X, làng Trà Đông đã là một phần của trung tâm chính trị - văn hóa quận Cửu Chân. Đến thời Lê Trung Hưng, bên cạnh Ké Ry (làng Phủ Lý) nỗi tiếng với nhiều quan lại, danh nhân, Kẻ Chè cũng nổi lên với 18 quận công như Trà Quận Công, Hiên Quận Công, Vinh Quận Công.
Sau này dòng họ Lê Đức. đổi thành Lê Văn, và chiếm đến 70% dân số trong làng. Ngoài họ Lê, ở Trà Đông còn có các dòng họ như: Đặng, Vũ, Bùi, Trân, Nguyễn, Trịnh, Tổng, Năm Canh Tý niên hiệu Thành Thái (năm 1900), tách các làng xã hai tổng Vận Quy và Đại Bối ra khỏi huyện Đông Sơn, nhập vào huyện Thiệu Hóa (Chú thích 1). Cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, xóa bỏ cấp phủ nên phủ.
Thiệu Hóa đổi thành huyện Thiệu Hóa. Để phục vụ cho công cuộc kiến. quốc, xã Tây Hồ - tên hiệu của nhà yêu nước Phan Chu Trinh ra đờ gôm. 6 thôn (làng cũ): Mỹ Lý, Nguyệt Lãng, Trà Đông và 3 làng Phủ Lý (Bắc, ‘Trung, Nam) Tháng 10 năm 1947, lẻ phục vụ cho cuộc kháng chiến chống Pháp, xã Tây Hồ hợp nhất với xã Minh Quang thành xã Minh Quang.
Hòa bình lập lại, miền Bắc được giải phóng nên có điều kiện bắt tay vào hàn gắn vết thương chiến tranh, kiến thiết đất nước và bắt đầu công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa và tiếp tục làm nhiệm vụ giải phóng.