Tổng quan nghiên cứu

Làng nghề đúc đồng Trà Đông thuộc xã Thiệu Trung, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa là một không gian văn hóa di sản đặc sắc với bề dày lịch sử hơn 3.500 năm, khởi nguồn từ cái nôi của nền Văn hóa Đông Sơn rực rỡ bên lưu vực sông Mã và sông Chu. Tuy nhiên, trước sức ép của nền kinh tế thị trường và quá trình đô thị hóa, nghề đúc đồng truyền thống đang đứng trước nguy cơ mai một nghiêm trọng. Số lượng hộ làm nghề chuyên nghiệp đã giảm sút mạnh mẽ từ hơn 80% tổng số hộ trước năm 1975 xuống chỉ còn khoảng 25 hộ vào năm 2012. Vấn đề cấp bách đặt ra là phải vừa bảo tồn các giá trị di sản văn hóa phi vật thể quý báu của cha ông, vừa thúc đẩy sinh kế bền vững cho cộng đồng cư dân địa phương theo tinh thần Điều 9 Luật Di sản văn hóa.

Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là nhận diện toàn diện diện mạo lịch sử, cấu trúc làng xã, quy trình kỹ thuật đúc đồng độc bản và đánh giá thực trạng biến đổi kinh tế - xã hội tại làng Trà Đông. Về phạm vi không gian, luận văn tiến hành khảo sát thực địa tại làng Trà Đông với diện tích 108,8 ha trên tổng diện tích tự nhiên 389,1 ha của xã Thiệu Trung. Về phạm vi thời gian, công trình nghiên cứu tiến trình phát triển từ trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến năm 2012. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài thể hiện qua việc cung cấp hệ thống luận cứ khoa học vững chắc, hỗ trợ chính quyền địa phương xây dựng đề án bảo tồn nghề cổ, phấn đấu gia tăng tỷ lệ hộ sản xuất lên 35% và nâng mức đóng góp của tiểu thủ công nghiệp vào giá trị kinh tế địa phương đạt mức tăng trưởng từ 15% đến 20% mỗi năm.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn tiếp cận vấn đề dựa trên nền tảng của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp hai lý thuyết chuyên ngành văn hóa học then chốt: Lý thuyết Biến đổi văn hóa và Lý thuyết Sinh thái nhân văn. Lý thuyết Biến đổi văn hóa cho phép luận giải sự chuyển dịch của các yếu tố văn hóa truyền thống dưới tác động của cơ chế thị trường và công nghiệp hóa. Lý thuyết Sinh thái nhân văn làm sáng tỏ mối quan hệ tương hỗ giữa môi trường tự nhiên, nguồn tài nguyên khoáng sản, đất sét bản địa với phương thức mưu sinh của cộng đồng cư dân châu thổ sông Chu.

Mô hình nghiên cứu được xây dựng trên sự tương tác ba trục: Cấu trúc làng xã truyền thống – Kỹ nghệ đúc đồng gia truyền – Động thái chuyển đổi kinh tế hộ gia đình. Nghiên cứu vận dụng 5 khái niệm công cụ cốt lõi bao gồm: Văn hóa làng nghề, Tri thức dân gian bản địa, Di sản văn hóa phi vật thể, Nghệ nhân đúc đồng và Phân công lao động truyền thống theo giới.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được thu thập từ tư liệu điền dã dân tộc học, văn bia Hán Nôm, thần tích địa phương, báo cáo thống kê kinh tế - xã hội của Ủy ban nhân dân xã Thiệu Trung và các công trình khảo cứu văn hóa Xứ Thanh. Phương pháp phân tích chủ đạo bao gồm phân tích định tính, tổng hợp lịch sử, thống kê mô tả và phương pháp so sánh liên ngành văn hóa học - dân tộc học. Lý do lựa chọn kết hợp các phương pháp này là nhằm vừa giải mã được chiều sâu các biểu trưng văn hóa phi vật thể và tri thức nghề gia truyền, vừa lượng hóa chính xác thực trạng phân bố lao động, biến động giá cả và thu nhập của làng nghề.

Cỡ mẫu nghiên cứu thực địa bao gồm 45 hộ gia đình đúc đồng và làm nông nghiệp, cùng 10 cán bộ quản lý cấp xã, thôn và 6 nghệ nhân lão thành tiêu biểu như nghệ nhân Lê Văn Bảy, nghệ nhân Lê Minh Đạo. Phương pháp chọn mẫu là chọn mẫu mục đích kết hợp chọn mẫu phân tầng theo quy mô sản xuất (chủ lò lớn, hộ sản xuất nhỏ lẻ, hộ thương mại thu mua). Toàn bộ quá trình thu thập và xử lý dữ liệu được tiến hành liên tục trong khung thời gian 3 năm, từ năm 2009 đến năm 2012.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, về cơ cấu dân cư và xã hội: Dòng họ Lê chiếm tới 70% dân số làng Trà Đông, giữ vai trò khai phá và duy trì cấu trúc làng xã gắn liền với câu ca "đất họ Lê, nghề họ Vũ". Toàn xã Thiệu Trung có 6 thôn, trong đó làng Trà Đông chia thành thôn 5 (176 hộ với 745 nhân khẩu) và thôn 6 (239 hộ với 1.008 nhân khẩu), tập trung 100% các lò đúc đồng của xã. Quỹ đất nông nghiệp của xã chiếm 73,96% (287,78 ha), đất chuyên dùng chiếm 15,78% (61,40 ha), tạo nền tảng kết hợp chặt chẽ giữa mô hình nông nghiệp 2 vụ lúa và thủ công nghiệp.

Thứ hai, về quy chuẩn kỹ thuật độc bản: Khuôn đúc Trà Đông sử dụng độc quyền nguồn đất sét trắng mịn tại cánh đồng Xú rộng 15 mẫu, khai thác ở độ sâu dưới 3 mét, phối trộn với vỏ trấu sống theo tỷ lệ tiêu chuẩn từ 20% đến 30%. Nhiệt độ nung khuôn được kiểm soát nghiêm ngặt từ 700 độ C đến 1.000 độ C cho đồ gia dụng và từ 1.000 độ C đến 1.200 độ C cho các sản phẩm hoa văn phức tạp. Đồng được nấu chảy ở 800 độ C và rót vào khuôn ở nhiệt độ 1.600 độ C trong thời gian trung bình 15 đến 20 phút cho một mẻ đúc.

Thứ ba, về biến động kinh tế và giá thành: Giá nguyên liệu đồng đỏ trên thị trường đã tăng mạnh từ mức đáy 40.000 đồng/kg năm 2010 lên 170.000 đồng/kg năm 2012 (tăng 325%), trong khi đồng nát tăng từ 30.000 đồng/kg lên 120.000 đồng/kg (tăng 300%), gây áp lực vốn lưu động rất lớn cho 25 cơ sở đúc đồng còn hoạt động.

Thứ tư, về phân công lao động và tổ chức sản xuất: Tồn tại sự phân hóa rõ nét giữa hai hình thức "đúc tại nhà" mang tính thường nhật theo quy mô gia đình và "đúc đám" mang tính thời vụ, chuyên đúc chuông to tượng lớn. Mạng lưới lưu thông hình thành sự liên kết vùng tự phát: thợ Trà Đông tập trung sản xuất, người dân làng Phủ Lý và Đại Bái đảm nhiệm 85% khâu cung cấp phế liệu và phân phối sản phẩm.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân của sự suy giảm số lượng lò đúc bắt nguồn từ sự cạnh tranh khốc liệt của các sản phẩm gia dụng bằng nhôm, nhựa và inox giá rẻ, cùng với tình trạng thiếu vốn đầu tư cải tiến công nghệ. So với các trung tâm đúc đồng lớn như Tống Xá (Nam Định) hay Đại Bái (Bắc Ninh) vốn đã nhanh chóng chuyển sang cơ giới hóa, Trà Đông vẫn duy trì phương pháp thủ công truyền thống tinh xảo, tạo nên lợi thế vượt trội về chất lượng nghệ thuật của dòng sản phẩm tâm linh, trống đồng Đông Sơn và tượng đài.

Dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa rất hiệu quả thông qua biểu đồ cột thể hiện tốc độ tăng trưởng giá nguyên liệu đồng giai đoạn 2010 - 2012, kết hợp với bảng đối chiếu ma trận so sánh các thông số kỹ thuật (tỷ lệ pha đất sét, nhiệt độ rót đồng, tỷ lệ hao hụt nguyên liệu) giữa Trà Đông và các làng nghề đồng bằng sông Hồng. Điều này khẳng định tri thức bản địa Trà Đông là một kho tàng di sản sống cần được bảo tồn cấp thiết.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, Ủy ban nhân dân huyện Thiệu Hóa và xã Thiệu Trung cần tiến hành quy hoạch dứt điểm khu sản xuất tập trung với diện tích tối thiểu 5 ha tách rời khu dân cư trước năm 2015. Động thái này nhằm xử lý dứt điểm 100% khói bụi và khí độc phát sinh từ nhiệt độ nung trên 1.000 độ C, đảm bảo tiêu chuẩn môi trường sống cho hơn 1.700 cư dân thôn 5 và thôn 6.

Thứ hai, Ngân hàng Chính sách Xã hội phối hợp với Hội Nông dân triển khai gói tín dụng ưu đãi với mức vay từ 50 triệu đến 200 triệu đồng mỗi hộ sản xuất, thời hạn vay trung hạn từ 3 đến 5 năm. Mục tiêu là giúp 25 cơ sở hiện tại có đủ nguồn vốn lưu động để dự trữ nguyên liệu, hạn chế tác động tiêu cực khi giá đồng đỏ biến động vượt ngưỡng 170.000 đồng/kg.

Thứ ba, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thanh Hóa chủ trì xây dựng đề án phát triển tuyến du lịch di sản văn hóa kết nối Di chỉ Núi Đọ - Đền thờ Không Minh Không - Làng nghề Trà Đông trong giai đoạn 2013 - 2016. Giải pháp này hướng tới mục tiêu thu hút từ 15.000 đến 20.000 lượt khách tham quan mỗi năm, nâng mức tiêu thụ sản phẩm lưu niệm thủ công lên 30% tổng doanh thu làng nghề.

Thứ tư, Hiệp hội làng nghề phối hợp cùng các nghệ nhân cao niên tổ chức từ 2 đến 3 lớp truyền dạy kỹ thuật làm khuôn đất sét và chạm khắc hoa văn cổ mỗi năm. Chỉ tiêu đặt ra là đào tạo tối thiểu 30 thợ trẻ lành nghề dưới 35 tuổi trước năm 2016, đảm bảo việc kế thừa liên tục tri thức đúc đồng truyền thống cho các thế hệ tương lai.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm 1: Các nhà nghiên cứu và giảng viên chuyên ngành Văn hóa học, Dân tộc học và Lịch sử. Luận văn cung cấp hệ thống dữ liệu điền dã thực chứng chuẩn xác và khung lý thuyết biến đổi văn hóa, làm tài liệu tham khảo cho các công trình nghiên cứu về di sản văn hóa làng xã Bắc Trung Bộ.

Nhóm 2: Cán bộ quản lý văn hóa và cơ quan hoạch định chính sách tại địa phương. Luận văn cung cấp hệ thống 7 bảng số liệu thống kê chi tiết về đất đai, dân số và cơ cấu sản xuất, phục vụ trực tiếp cho công tác xây dựng hồ sơ công nhận di sản văn hóa phi vật thể quốc gia và quy hoạch phát triển kinh tế nông thôn.

Nhóm 3: Các nghệ nhân, chủ doanh nghiệp và hợp tác xã đúc đồng truyền thống. Tài liệu là cẩm nang phân tích chi tiết các thông số kỹ thuật (pha trộn đất sét, nung khuôn từ 700 đến 1.200 độ C, kỹ thuật rót đồng) giúp chuẩn hóa quy trình sản xuất và nâng cao tỷ lệ đúc thành công lên trên 95%.

Nhóm 4: Sinh viên, học viên cao học khối ngành Khoa học Xã hội và Nhân văn. Luận văn đóng vai trò như một nghiên cứu tình huống mẫu mực về phương pháp tiếp cận liên ngành, kỹ năng xử lý tư liệu Hán Nôm và kỹ thuật phỏng vấn sâu trong nghiên cứu thực địa.

Câu hỏi thường gặp

Tổ nghề đúc đồng làng Trà Đông là ai và lễ hội tri ân được tổ chức vào thời gian nào? Thánh tổ nghề của làng là Đức Không Minh Không, người đã truyền dạy bí quyết luyện đồng cho hai vị tổ họ Vũ, tiêu biểu là cụ Vũ Đạt. Hằng năm, nhân dân làng Trà Đông long trọng tổ chức lễ giỗ tổ vào ngày mùng 3 tháng Sáu âm lịch và lễ kỷ niệm ngày sinh của ngài vào ngày 13 tháng Chín âm lịch tại ngôi đền cổ của làng.

Điểm đặc trưng nhất của kỹ thuật làm khuôn đúc đồng tại Trà Đông là gì? Nét độc đáo nhất nằm ở việc sử dụng loại đất sét màu gan trâu dẻo mịn khai thác sâu dưới 3 mét tại đồng Xú rộng 15 mẫu, phối trộn trấu sống theo tỷ lệ từ 20% đến 30%. Quy trình làm cốt trong đòi hỏi kỹ thuật đo độ hồng bằng que tre mỏng cực kỳ chuẩn xác để sản phẩm có độ dày đều tuyệt đối.

Sự khác biệt căn bản giữa hình thức đúc tại nhà và đúc đám là gì? Đúc tại nhà là công việc thường nhật của từng hộ gia đình chuyên sản xuất đồ gia dụng như nồi, xanh, mâm, niếng. Đúc đám là hình thức liên kết các thợ giỏi đầu ngành theo tính chất thời vụ để đúc các công trình quy mô lớn như đại hồng chung, tượng đài Bác Hồ hoặc tượng Phật nặng hàng tấn theo đơn đặt hàng đặc biệt.

Thực trạng biến động giá nguyên liệu đồng ảnh hưởng như thế nào đến làng nghề? Trong giai đoạn khảo sát, giá thu mua đồng nát biến động từ 30.000 đồng/kg lên 120.000 đồng/kg và đồng đỏ đạt 170.000 đồng/kg (tăng hơn 300%). Mức tăng này khiến các hộ gia đình gặp áp lực tài chính rất nặng nề, buộc hơn 70% số hộ phải chuyển đổi phương thức hoặc thu hẹp quy mô sản xuất.

Nghiên cứu đề xuất giải pháp cốt lõi nào để xử lý ô nhiễm môi trường làng nghề? Giải pháp cốt lõi là di dời toàn bộ 25 cơ sở sản xuất vào cụm công nghiệp làng nghề tập trung quy mô 5 ha tại xã Thiệu Trung. Khu tập trung cần trang bị hệ thống quạt hút gió công nghiệp và lò lọc khí thải đạt chuẩn trước khi xả ra môi trường, giảm thiểu 90% lượng khói bụi độc hại cho khu dân cư.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện lịch sử hình thành và phát triển của làng nghề đúc đồng Trà Đông với truyền thống hơn 3.500 năm gắn liền nền Văn hóa Đông Sơn.
  • Làm rõ cấu trúc làng xã đặc thù với dòng họ Lê chiếm 70% dân số và mạng lưới liên kết sản xuất - thương mại độc đáo giữa Trà Đông, Phủ Lý và Đại Bái.
  • Phân tích chi tiết hệ thống tri thức dân gian bản địa, từ tỷ lệ phối trộn đất sét cánh đồng Xú (20% đến 30% trấu) đến kỹ thuật nung và rót đồng ở nhiệt độ 1.600 độ C.
  • Đánh giá thực trạng sụt giảm số hộ làm nghề chuyên nghiệp xuống còn 25 hộ và đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ về vốn, quy hoạch cụm công nghiệp và du lịch di sản.
  • Đóng góp luận cứ khoa học quan trọng cho việc thực thi Điều 9 Luật Di sản văn hóa, định hướng phát triển bền vững làng nghề trong giai đoạn 2013 - 2020.

Hãy tiếp tục khai thác, ứng dụng các phát hiện khoa học từ luận văn này vào công tác bảo tồn di sản văn hóa và xây dựng chiến lược phát triển kinh tế làng nghề truyền thống tại địa phương ngay hôm nay.