Chương I: Tổng quan về làng Đào Động và quần thể di tích đến Đồng Bằng “Chương 2: Giá trị văn hoá nghệ thuật quản thể dĩ tích đến Đồng Bằng, “Chương 3: Lễ hội di tích Đền Đồng Bằng, “Chương 4: Bảo tồn và phát huy giá trị dĩ tích đến Đồng Bằng 10 Chuong 1 TONG QUAN VE LANG DAO DONG VA QUAN THE DI TÍCH ĐỀN ĐỒNG BẰNG. L1: KHÁI QUÁT VỀ LANG DAO DONG. Truyền thuyết về đất Đào Đông cổ nơi phát tích đến Đồng Bằng ‘Thai Nguyễn xã Dao Dong ten nom la Lang Đồng Bằng tổng Vọng Lỗ huyện Phụ Phượng, sau đổi thành Phụ Dực tỉnh Thái Bình. Theo truyền thuyết, vào đời Hang Vuong thứ 18, vua Hùng Duệ Vương khi mới lên ngôi trị vì đất nước, trong một đêm, vua mơ thấy mình bay vẻ một vùng quê sông nước, dải sông mềm mại như.
tấm khăn lụa, ôm lấy một thôn trang trù phú, xanh mượt sắc cây, điểm hoa đào rực rỡ, tiếng nông phu ca hát trên đồng, nhìn ra xa hơn, thấy biển xanh dào dạt. Vua tỉnh giấc, tiếc mãi giấc mơ đẹp! Bỗng nhớ chuyện An Tiêm trước. Sáng hôm sau, vua hỏi các lạc tướng: Các ngươi có thể dẫn ta đi thăm đảo An Tiêm chăng? Nhớ. dén chuyện An Tiêm, ta thật cảm phục, không ÿ thế con vua, vượt bao khó khăn, tự thân lập nghiệp.
đáng làm gương cho đời! Lạc tướng trông coi Bộ Thang Truyền, quận Giao Chỉ, có mặt trong chư. tướng theo lịch gọi về kinh, liền tâu rằng: Trời đất vật đổi sao đời, bãi bể nương dâu, đảo An Tiêm ngày xưa nay đã thành bãi cạn, chỉ còn dấu vết mà thôi. Thế nhưng. vua Hùng vẫn quyết kinh lý, để tim dấu tích của con người phi thường ngày xưa, mà dan Lạc Việt hết lòng quý trọng.
'Vua dẫn các tuỳ tướng rời Kinh, ngày đi đêm nghỉ, xuôi theo phía bờ bắc xông Cái (sông Hồng). cùng mứa hát với dân, ăn các thứ cá, cua đồng nội. vua lấy làm thích lắm! Một hôm, vua và chư tướng đến vùng đồng bãi mà lạc tướng hướng đạo tính rằng: chỉ còn cách nơi lưu dấu tích đảo An Tiêm khoảng 30 dặm, vua bỗng nhìn thấy một cồn đất xanh rợp bóng cây, xóm thôn trù phú, nổi lên giữa một vùng bãi bồi ngập nước, thuyền của vua bơi trên dòng sông uốn khúc, ôm lấy cổn đất đẹp. " Khi tới gần, đã thấy những ruộng lúa mầu khẩn hoang, và trong tiết xuân, làng que đỗ sắc hoa đào.
Vưa nhớ lại giấc mơ đẹp hôm nào, quay lại hỏi quan hướng đạo, lược thưa rằng : *Sông ta dang di thuyền, có tên là xông Vĩnh, day gọi là vàng Bai trong, thuộc đất Hải Đông, dấu tích đảo An Tiêm còn ở bãi ngoài". Vua khen cảnh đẹp, cho nghỉ lại nơi này, cư dân đón tiếp vua rất thiện cảm, aang nhảy múa, cdâng vua những sản vật quê hương. Vua cứ khen mỹ lo giống cảnh Đào Nguyên trong mơ đến thé! Vua còn nói rằng: Mảnh đất kỳ lạ này tất phát tích. Rồi tiếp bước kinh lý dần ra bãi ngoài.
Khi trở về, vua cho đặt tên cả vùng đất bãi đó là phủ An “Tiêm, thuộc quận Giao Chỉ, uf không còn gọi là vùng bãi Hải Đông, thuộc Bộ “Thang Truyền, quận Giao Chỉ như trước đây nữa. Riêng vùng hương làng bên sông. 'Vĩnh, tự nhiên cũng có tên là Động Đào từ đó. Ngày ấy, đất Động Đào cổ, mới chỉ ‘bao gm mot dai đất thuộc xóm chợ (xóm Đông), xóm Đoài (xóm Hai cũ) và xóm Lãng sát sông Vĩnh (xóm Bốn cũ) [40, tr.
4 - 5] “Trong dân gian còn có một giai thoại khác về sự ra đời đất Đào Động, ngày ấy, Lạc Long Quân đưa 50 người con xuống biển, sau khi trao cho các con phần đất khai khẩn, phần biển để đánh bất cá. Người bảo với các con rằng: dòng trưởng, mạnh nhất, sẽ thay cha và mẹ cai quản đất Lạc Việt, các con vừa là thần dân, vừa là canh em một nhà, hãy gìn giữ, mở mang đất nước của cha mẹ truyền cho, mẫu thân các con đã hẹn cùng cha, và đã trở lại tượng chỉm Âu Lạc, còn cha về với Long “Củng, khi đất nước có sự biến, cha mẹ sẽ ở cạnh các con. Nói rồi, hiện nguyên hình là một con Hoàng Long lớn, biến mất trong sóng nước biển Đông. Người con được trao phẩn đất bãi, phía Bắc song Cai, di thi xát phần đất của mình, đến những cỏn, gò ở cửa sông, dọc bãi.
Ngài bốc những hạt đậu được cha me chia cho, dé rắc lên đó. Các hạt đậu biến thành dân để cai quản cồn đất. Một ngày, Ngài đến một gò đất nổi hình dai áo, xung quanh là đảm lấy mênh mông nước lợ, Ngài lấy tay vạch một vạch cánh cung phía Tây Bắc gò đất, tạo thành một con sông lớn, rút nước lợ xuôi ra biển, đón nước ngọt về, sau đó, Ngài "rắc đậu thành dân” lên gò đất, dạy họ cách khẩn hoang cấy lúa và chài lưới đánh bắt cá tôm. Trước khi đi tiếp trong lộ trình khai hoá của mình, Ngài gọi dân bản thổ đến mà nơi đây có thế đất thịnh vượng, ta đặt tên con sông mà ta tạo ra cho các con, tên là sông 2 Vinh, dé mong ring cuộc sống noi day vĩnh hằng tấn phát.
Đây là dải đất đẹp, ta cho các con một giống cay do qui để tôn thêm cảnh sắc. Rồi Ngài lấy từ túi ra một nắm hạt đào và rải xuống, một rừng hoa đào nở hiện lên trước sự reo vui của dân làng. Thế rồi, đến mấy trăm năm sau đó, Hùng Vương thứ 18 về đây trên đường di kinh lý tìm đất cũ An Tiêm, và mảnh đất này có tên là Động Đào từ đấy. Chữ Động Đào ( ` viết theo chữ Hán, đọc từ phải sang trái, cho nên nếu đọc xuôi là Đào Động, vì vậy sau này gọi là Đào Động [40, tr.
32 - 33] C6 truyền thuyết cho rằng:. Vào thời Trần, Đào Động nằm trong trung tâm ứ lưu vực sông Hoá của Quốc công tiết chế Hưng Đạo Vương. Hưng Đạo ‘Vuong sai tướng Phạm Ngũ Lão và Phò mã Nguyễn Chế Nghĩa về đắp thành luỹ, lập căn cứ ở thôn Đào, thôn Lãng (Đào Động). Đền thờ hai ông vẫn còn, dấu vết chiến lug vin cin, đây là hậu cứ vững chắc như hành đồng, nên làng Đào Động còn có tên gọi Đồng Bình - bức chắn bằng kim loại trên phòng tuyến chống quân xâm lược Nguyên.
Vì không căn cứ vào tự dạng và nghĩa của từ này, người La cho rằng chữ Bình ( = bite chắn) đồng nghĩa với chữ Bình ( - bằng) nên chữa tên Lang mới là Đồng Bằng. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên Làng Đào Động xưa là xã Đào Động, tổng Vọng Lỗ, huyện Phụ Dực, nay thuộc xã An Lễ, huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình. An Lễ ngày nay nằm ở phía Tây Bắc của tỉnh Thái Bình, phía Đông giáp xã An Quí, phía Nam giáp Đông Hải cạnh xông Đồng Bằng, phía Tây giáp An Vũ và phía Bắc giáp xã An Ninh. Đào Động còn có ten gọi là Trang Đào, Trang Lãng.
Khi được vua Trần phong Vương, cắt cho dai đất nằm kéo dài từ Thái Bình ngày nay sang Nam Định, An sinh vương Trấn Liễu đã đặt tên cho vùng đất này là Phủ Thiên Trường. Đào ‘Dong là một trang nằm trong phủ Thiên Trường ngày đó. Người Đào Động chủ yếu. là cư dân Hoà Bình di cư xuống và Nghệ An di cư ra, do vậy Đào Động chính là nơi giao thoa của nhiều nét văn hoá, mỗi bộ phận dân cư mang một nét văn hoá riêng biệt, tạo nên sự phong phú của nền văn hoá nơi đây vẻ sau này.
Chính vì là cư dân có gốc gác từ Hoà Bình, nên người Đào Động chủ yếu mang họ Đỉnh [15, tr. 2] B Khi quan Nguyen Mong sang xâm lược nước ta, thế giặc quá mạnh, nhà Trần lúc này tướng ít, binh mỏng, vũ khí thô sơ, đành phải thực hiện kế sách "vườn không nhà trống” bỏ thành Thăng Long, vua tôi rút về phủ Thiên Trường, chiêu bình mãi mã, thu nạp luyện tập quân sĩ, củng cố lực lượng, xây dựng căn cứ, sau đó phản. công đánh đuổi giác Nguyên Mông ra khỏi thành Thăng Long, thu non sông về một mối. Đào Động là một trong nhiều căn cứ của binh mã nhà Trấn tại phủ Thiên “Trường.
Làng Đào Động nằm trên một khu đất cao, xung quanh là vùng canh tác tring, ở đây còn có rất nhiều dấu tích của yếu tố biển, theo dân gian giải thích với những tên gọi đống He (trước day cá He từ biển vào nằm ở đây rất nhiều), ngoài ra còn có các đám Bà, Trại Dễ. Phía Nam thôn Đào Động là sông Đồng Bảng (hay xưa còn gọi là sông Tam Kỳ) có chiều dài gần 4km, chảy theo hướng Đông Bắc - “Tây Nam, phát nguyên từ cửa Ba Mỹ (xã An Quí) uốn hình chữ S ôm lấy thôn Đào. Động vòng qua thôn Đồng Ông, gặp sông Cô tại đập Hệ rồi đổ ra hệ thống song Hoá. Con sông cổ này hiện nay đã bị lấp dòng, chỉ còn lại từng doan của sông nhỏ, có đoạn biến thành đầm hoặc sông cụt Trước năm 1945, sông Đồng Bằng còn rất rộng, có đoạn rộng tới 500m, thuyền bè đi lạ tấp lập.
Dân Đào Động xưa chuyên nghề chài lưới cho nên con sông này giữ vai trò quan trọng trong đời sống của họ, nó còn được coi là một trong những đường thuỷ quan trọng trong giao thông thương mại của cả vùng. Điều này được minh chứng bởi nằm sát bên sông Đồng Bảng xưa có một chợ lớn gọi là chợ Đồng Bảng, thu hút rất nhiều khách thập phương đến buôn bán trao đổi hàng hoá. Va có thể nơi đây xưa đã trở thành trung tâm buôn bán của huyện Phu Dye: "Thế kỷ XII Đào Động đã là một tong *Tứ cố cảnh” của huyện Đa Dực (sau này là Phụ Phượng và Phy Duc). Theo dân gian truyền lại, Đào Động thời Trần có tên gọi là Đào Động trang (còn gọi là trang Đào Động) do Vĩnh Công Đại Vương (nay đang được thờ tại đến Đồng Bằng) có công đánh giặc khai khẩn ruộng hoang, chiêu dân lập ấp.
*Trang” ở đây được hiểu là địa dư, địa danh hành chính của một khu vực, hay tập đoàn dân cư do các hoàng thân quốc thích hoặc các danh tướng thời Lý Trần được quyền chiêu dân lập ấp mà thành. 4 Tên gọi Đào Động xuất hiện trên văn bản trước năm 1672 (Bia chùa Phúc Hung, niên dai Dương Đức nguyên niên), như vậy với địa danh và địa dư là một xã "Đào Động chắc hẳn đã xuất hiện trên bản đỏ thời Hồng Đức vào cuối thế kỷ XIV (Lê S0).