Chương 1: Cơ sở lý luận về định hướng văn hóa ứng xứ với tự nhiên của giới trẻ Hà Nội và tổng quan về Bảo tàng Địa chất Việt Nam Chương 2: Các hoạt động giáo dục định hướng văn hóa ứng xử với. tự nhiên của giới trẻ Hà Nội tại Bảo tàng Địa chất Việt Nam Chương 3: Những vấn đề đặt ra đối với việc định hướng văn hóa ứng. xử với tự nhiên của giới trẻ Hà Nội tại Bảo tàng Địa chất Việt Nam 13 Chuong 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỊNH HƯỚNG VĂN HÓA UNG XU 'VỚI TỰ NHIÊN CỦA GIỚI TRẺ HÀ NỘI VA TONG QUAN VE BAO TANG DJA CHAT VIET NAM 1. Cơ sở lý luận về định hướng văn hóa ứng xử với tự nhiên của giới trẻ Hà Nội 1.
Cơ sở lý luận về định hướng văn hóa ứng xử với tự nhiên 1. Khái niệm văn hóa ứng xử * Khái niệm ứng xứ Ứng xử là một từ ghép gồm “ứng” và “xứ”. Theo Từ điển tiếng Việt (2010) của Viện Ngôn ngữ học thì nghĩa của từ “ứng” mang 2 nội dung chính. Đầu tiên là đáp lại, lên tiếng đáp lại lời kêu gọi.
Thứ 2 là có mối quan hệ phủ. hợp tương đối với nhau. Còn “xử” có nghĩa là hành động theo cách nào đó, thể hiện thái độ đối với người khác trong một hoàn cảnh nhất định. xử” là những biểu thị phản ứng của con người trong các mối quan hệ của họ qua đó thể hiện được thái độ chủ thể [31, tr70).
“Theo quan niệm của các nhà nghiên cứu tâm lý học, “ứng xử” là một biểu hiện của giao tiếp. "Ứng xử” là sự phản ứng của con người trước sự tác động của người khác với mình trong một tình huồng nhất định được thể hiện qua thái độ, hành vi, cử chỉ, cách nói năng của con người nhằm đạt kết quả tốt trong mỗi cquan hệ giữa con người với nhau. Xét trên điện nhân cách thì bản chất của ứng xử chính là những đặc điểm tính cách của cá nhân được thể hiện qua thái độ, hành vi, cử chỉ và cách nói năng của cá nhân với những người xung quanh. Xét trén góc độ sinh học, các nhà khoa học cho rằng “ứng xử” có nghĩa là “toàn thể những phản ứng thích nghỉ có thể quan sát được khách tham quan mà một cơ chế, một hệ thống thần kinh thực hiện đẻ đáp trả lại những kích 14 thích.
Điều đáng chú ý là những phản ứng ấy (những ứng xử, xử lý để đáp ứng được diễn ra theo cách tương đối ổn định” [7, tr.123] “Theo tác giả Đoàn Văn Chúc (1997), để xác định một cách ứng xử nào đó là ứng xử văn hóa hay không người ta thường xét trên 4 yếu tố sau đây: ~ Ứng xử được thường xuyên lặp đi lặp lại, tức là tính thời gian của. ứng xử, ~ Ứng xử được lặp đi lặp lại tương đối theo cùng một cách bởi nhiễu. người, tức là tính không gian của ứng xử; ~ Ứng xử ấy có tác dụng kim chỉ nam mẫu mực hay quy tắc cho các. thành viên của một nhóm hay một xã hội; ~_ Ứng xử ấy chứa đựng một ý nghĩa xã hội nào đấy, tức nó biểu thị kiến thức tư tưởng hoặc tình cảm mà chủ thể đã đạt được, nói cách khác nó là cái mang vác một giá trị (kinh tế, chính trị, luân lý hay.
thâm mỹ) [7, tr. Trong xã hội học, “ứng xử” dùng dé chỉ cách hành động hoặc cách nói của một vai trò xã hội này đối diện với một vai trò khác. Ví dụ như một cặp vai trò vợ/chồng, cha/con, cấp trên/cấp dưới. Tuy nhiên, ứng xử không chỉ giới hạn giữa các vai trò xã hội với nhau, còn là ứng xử với mình, ứng xử với đồ vật, tự nhiên Những ứng xử của con người trong “các mối liên hệ” của mình được lặp di lap lại theo cùng một cách thức trong cùng một xã hội, theo thời gian dần dần được lựa chọn, tập hợp, khái quát hóa và trở thành những khuôn mau ứng xử của xã hội ấy.
Khuôn mẫu ứng xử của một xã hội không chỉ là tập hợp. những quy tắc mang tính chuẩn mực mà nó còn chứa đựng những giá trị Những giá trị đó được coi là mẫu mực để áp đặt lên các thành viên xã hội khi họ phải hành động theo một cách nào đó, được tiêu chuân hóa làm. thước đo để phân biệt cái nên hay không nên, đúng hay sai, ứng xử như thể 15 nào thì mới là có văn hóa. Nhưng trong thực tế không có mô hình tổ chức nào cố định cho tat ca moi xã hội và cũng không có khuôn mẫu ứng xử nào chung.
cho tất cả mọi mô hình xã hội. “Ứng xử” cũng có thể được coi như một khái niệm nhân học văn hóa. Đối tượng của nhân học văn hóa rất rộng nhưng chủ yếu là nghiên cứu con người, coi con người như là những sinh vật có tính xã hội và tính văn hóa. Trong cuốn “Ứng xử văn hóa trong du lịch” (2010) tác giả Trần Thúy.
Anh cũng cho rằng, một đặc điểm nỏi bật của ứng xứ con người khác hẳn con vật, là con người sống trong một thế giới biểu trưng và ước lệ mà những nhà nhân học gọi là văn hóa. Trong khung cảnh văn hóa, con người có khả năng gán cho những vật (vật chất sống và vô sinh trong thiên nhiên) và cho những ứng. xử một ý nghĩa ước định mà họ bắt buộc phải theo như là một bộ. phận của thế giới hiện thực.
Ở những vùng văn hóa khác nhau có chứa những biểu trưng và ước lệ khác nhau, khiến và buộc con người cần ứng xử khác nhau cho phù hợp. Rõ ràng là, ứng xử con. người ở các nước, các vùng khác nhau thì không giống nhau do các. nên văn hóa khác nhau.
Còn ứng xử của con vật ở khắp nơi thi hau như giống nhau vì chúng không có văn hóa nhưng điều đó không hẳn là chúng không có tư duy. Bởi vậy con người mới là sinh vật đặc biệt và theo đó, ứng xử của con người cũng được xếp là ứng xử. đặc biệt - ứng xử văn hóa [1, tr25] Qua đó có thể thấy ứng xử của con người (cá nhân hay cộng đồng) phản ánh 2 mối liên hệ cơ bản. Đầu tiên, nói đến ứng xử là nói đến cách xử trí trong quan hệ giữa người với người hoặc giữa cá nhân với cộng đồng trước những sự kiện hoặc sự việc cụ thể.
Thứ 2, ứng xử cũng là một phương diện cấu thành của văn hóa, là biểu hiện tổng hợp của văn hóa 7 Trong công trình “Cơ sở văn hóa Việt Nam”, tác giả Trần Ngọc Thêm không trình bày một định nghĩa về văn hóa ứng xử nhưng đã xác định những nội hàm của khái niệm này. Tác giả cho rằng, các cộng đồng chủ thể văn hóa tồn tại trong quan hệ với hai loại môi trường: tự nhiên (thiên nhiên, khí hậu.) và môi trường xã hội (các dân tộc, quốc gia, láng giềng. Với mỗi loại môi trường đều có cách thức xử thế phù hợp là tân dụng môi trường (tác động tích cực) và ứng phó với môi trường (tác động tiêu cực) [37, tr. Nhu vay, “văn hóa ứng xử” qua đó được khái quát là một kiểu xử thể phù hợp của con người với môi trường, xã hội và với chính bản thân con người.
Cũng dựa trên những quan điểm tương tự, trong công trình “Văn hóa ứng xử của người Thái trong gia đình và ngoài xã hội qua ca dao”, tác giả Pham Phương Thùy cũng được ra một khái niệm về văn hóa ứng xử. Theo đó: 'Văn hóa ứng xử là hệ thống những khuôn mẫu ứng xử, chuẩn mực. ứng xử trong các mối quan hệ ứng xử của con người với các đối tượng. khác, được thể hiện qua ngôn ngữ hành vi, nếp sống.
Cùng với tiến trình phát triển không ngừng hoàn thiện của đời sống. con người, hệ thống đó được tiêu chuẩn hóa, xã hội hóa và trở thành chuẩn mực của mỗi cá nhân, nhóm xã hội hay toàn bộ xã hội, nó phù hợp với đời sống xã hội, với bản sắc của văn hóa dân tộc, quốc gia, được cá nhân, cộng đồng, xã hội thừa nhận và tuân theo [38, tr.16] Nhóm tác giả cho rằng văn hóa ứng xử được hình thành từ các khuôn mẫu ứng xử, từ các hoạt động trong quan hệ của con người với tự nhiên, môi trường xã hội đã hình thành những khuôn mẫu ứng xử của con người đối với thế giới thiên nhiên, xã hội và đối với nhau. Cái khuôn mẫu ứng xử này được hiểu một cách giản đơn là những ứng. xử đã được cộng đồng chấp nhận.
Từng cá nhân trong xã hội có thể vận dụng 18 quy tắc đó vào những tình huống khác nhau, nhưng có cùng một loại nghĩa. Nói cách khác là họ phải ứng xử theo cách mà các thành viên khác mong chờ. “Theo quan niệm này, thì việc ứng xử tuân theo đúng những khuôn mẫu chuẩn. mực và những giá trị chuẩn mực này được cho là ứng xử văn hóa.
“Những, ứng xử văn hóa này được lặp đi lặp lại thành nếp và được kết cấu, định vị với nhau trong hệ thống văn hóa lớn hơn gọi là văn hóa ứng xử” [38, tr 15] Tuy nhiên, các khuôn mẫu ứng xử văn hóa hay văn hóa ứng xử luôn có tính lịch sử - cụ thể. Nghĩa là nó luôn gắn liền với điều kiện, môi trường cụ thể nhất là điều kiện kinh tế - xã hội và khi những điều kiện này thay đổi thì nó cũng sẽ có sự điều chỉnh cần thiết cho thích hợp. Như vậy có thể xem văn hóa ứng xử là một thành tố không thể tách rời của của văn hóa nói chung, nó bao hàm cả phương thức của con người với thiên nhiên. Xét trên phương diện hoạt động, văn hóa ứng xử là một hệ thống các hành vi nhằm thực hiện những khuôn mẫu mang tính lý tưởng kết tỉnh những giá trị và chuẩn mực xã hội nhằm bảo tồn, phát triển cuộc sống của cá nhân và cộng đồng hướng đến cái đúng, cái tốt, cái đẹp.
Trong phạm vi nghiên cứu, luận văn chỉ đề cập đến văn hóa ứng xử giữa con người với tự nhiên. Khải niệm về vẫn hóa ứng xử với tự nhiên * Tự nhiên Tự nhiên là tập hợp các điều kiện địa lý tự nhiên của một vùng đất lãnh thổ có tác động trực tiếp đến mức sống của dân cư và các chỉ tiêu kinh tế trong vùng lãnh thổ ấy [31, tr. Theo wikipedia thi: Tự nhiên hay cũng được gọi thiên nhiên, thế giới vật chất, vũ trụ và thể giới tự nhiên, là tất cả vật chất và năng lượng chủ yếu ở dạng, 19 ban chat.