Luận văn thạc sĩ văn hóa học định hướng văn hóa ứng xử với tự nhiên của giới trẻ hà nội qua hoạt động giáo dục tại bảo tàng địa chất việt nam

Luận văn thạc sĩ giáo dục nghiên cứu văn hóa học định hướng văn hóa ứng xử với tự nhiên của giới trẻ hà nội qua hoạt động giáo dục tại, khảo sát thực trạng, phân tích nguyên nhân,

Chuyên ngành

Văn hóa học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2015

149
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Luận văn văn hóa học về ứng xử với tự nhiên của giới trẻ

Luận văn thạc sĩ ngành văn hóa học với chủ đề "Định hướng văn hóa ứng xử với tự nhiên của giới trẻ Hà Nội qua hoạt động giáo dục tại Bảo tàng Địa chất Việt Nam" là một công trình nghiên cứu chuyên sâu, làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên trong bối cảnh hiện đại. Nghiên cứu xác định văn hóa ứng xử với tự nhiên là hệ thống các quan niệm, thái độ và hành vi của cá nhân hoặc cộng đồng trong việc tương tác với môi trường. Đây không chỉ là biểu hiện của đạo đức, nhân cách mà còn là yếu tố then chốt góp phần xây dựng mô hình phát triển bền vững. Con người là một phần không thể tách rời của tự nhiên, sống dựa vào và tương tác với thiên nhiên. Do đó, việc hình thành một văn hóa sinh thái tích cực, nơi con người ứng xử một cách hài hòa và có trách nhiệm, là yêu cầu cấp thiết. Luận văn chỉ ra rằng, trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hành vi của giới trẻ với thiên nhiên đang có những biến đổi phức tạp. Một mặt, nhiều bạn trẻ tích cực tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường. Mặt khác, một bộ phận không nhỏ vẫn còn thái độ thờ ơ, vô cảm, thể hiện qua các hành động xả rác bừa bãi, lãng phí tài nguyên. Nghiên cứu này tập trung vào đối tượng giới trẻ thủ đô (độ tuổi 15-25), thế hệ chủ nhân tương lai của đất nước, để tìm hiểu thực trạng và đề xuất giải pháp định hướng nhận thức và hành vi. Trọng tâm của luận văn là khai thác vai trò của bảo tàng trong giáo dục, cụ thể là Bảo tàng Địa chất Việt Nam, một bảo tàng chuyên ngành có tiềm năng to lớn trong việc phổ biến tri thức khoa học và nâng cao ý thức bảo vệ tự nhiên.

1.1. Cơ sở lý luận về văn hóa ứng xử môi trường trong xã hội

Văn hóa ứng xử được định nghĩa là hệ thống những khuôn mẫu, chuẩn mực trong các mối quan hệ của con người, thể hiện qua ngôn ngữ, hành vi và nếp sống. Xét trên phương diện hoạt động, đây là một hệ thống các hành vi nhằm thực hiện những giá trị và chuẩn mực xã hội, hướng đến cái đúng, cái tốt và cái đẹp. Trong mối quan hệ với tự nhiên, văn hóa ứng xử môi trường thể hiện qua thái độ trân trọng, hành vi bảo vệ và cách thức khai thác tài nguyên một cách hợp lý. Luận văn của tác giả Kiều Thanh Nga (2015) khẳng định, thái độ của con người đóng vai trò định hướng xuyên suốt, là nền tảng của văn hóa ứng xử. Định hướng này dựa trên các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc như sống hòa hợp, nương tựa vào thiên nhiên, đồng thời tiếp thu các tri thức khoa học hiện đại về môi trường và biến đổi khí hậu.

1.2. Đặc điểm giới trẻ Hà Nội và nhận thức về tự nhiên hiện nay

Đối tượng nghiên cứu về giới trẻ thủ đô trong luận văn là nhóm từ 15 đến 25 tuổi, một lực lượng xã hội to lớn, năng động, sáng tạo và có vai trò quyết định tương lai đất nước. Giới trẻ Hà Nội ngày nay có điều kiện tiếp cận thông tin, khoa học công nghệ, có ý chí lập thân, lập nghiệp. Tuy nhiên, mặt trái của cơ chế thị trường và các hiện tượng tiêu cực xã hội cũng tác động không nhỏ đến tư tưởng, lối sống của họ. Một bộ phận giới trẻ có biểu hiện sống thực dụng, ít quan tâm đến các vấn đề chính trị - xã hội, bao gồm cả vấn đề môi trường. Nhận thức về môi trường của sinh viên và thanh niên dù đã được cải thiện nhưng chưa thực sự chuyển hóa thành hành động tự giác và trách nhiệm trong đời sống hàng ngày.

II. Thách thức trong văn hóa ứng xử với tự nhiên của giới trẻ

Thực trạng văn hóa ứng xử với tự nhiên của giới trẻ Hà Nội đang đối mặt với nhiều thách thức đáng báo động. Mặc dù các phong trào và hoạt động ngoại khóa về môi trường ngày càng phổ biến, một bộ phận không nhỏ thanh niên vẫn thể hiện những hành vi thiếu văn hóa, gây tác động tiêu cực đến môi trường sống. Luận văn chỉ rõ các biểu hiện như vứt rác bừa bãi nơi công cộng, bẻ cây, hái hoa, chưa có thói quen tiết kiệm điện, nước một cách triệt để. Đáng lo ngại hơn là thái độ của thanh niên với biến đổi khí hậu và các vấn đề môi trường vĩ mô còn khá thờ ơ, vô cảm. Nhiều người xem việc bảo vệ môi trường là trách nhiệm của nhà nước, của các tổ chức xã hội chứ không phải của chính bản thân mình. Sự thiếu hụt kỹ năng sống và ý thức bảo vệ tự nhiên dẫn đến những hành động bột phát, thiếu suy nghĩ. Nguyên nhân của thực trạng này bắt nguồn từ nhiều yếu tố. Thứ nhất, công tác giáo dục môi trường trong nhà trường tuy đã được triển khai nhưng thường nặng về lý thuyết, thiếu tính trực quan và các hoạt động học tập trải nghiệm tại bảo tàng hay thực địa. Thứ hai, sự tác động từ mặt trái của kinh tế thị trường khiến một số bạn trẻ chạy theo lối sống thực dụng, coi nhẹ các giá trị tinh thần và trách nhiệm cộng đồng. Thứ ba, sự phối hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội trong việc giáo dục thế hệ trẻ chưa thực sự đồng bộ và hiệu quả. Việc thiếu các không gian văn hóa, khoa học hấp dẫn như các bảo tàng chuyên ngành cũng làm hạn chế cơ hội tiếp cận tri thức và hình thành thái độ đúng đắn cho giới trẻ.

2.1. Phân tích các hành vi của giới trẻ với thiên nhiên còn bất cập

Nghiên cứu chỉ ra các hành vi tiêu cực phổ biến bao gồm việc xả rác không đúng nơi quy định, lãng phí tài nguyên (điện, nước), và phá hoại cảnh quan thiên nhiên. Đặc biệt, thái độ của thanh niên với biến đổi khí hậu thường dừng lại ở mức độ nhận biết thông tin qua truyền thông, chứ chưa chuyển thành hành động cụ thể để giảm thiểu tác động. Sự thiếu kết nối với tự nhiên trong môi trường đô thị hóa cũng là một nguyên nhân khiến giới trẻ xa rời và thiếu sự trân trọng đối với các giá trị của thiên nhiên. Những hành vi này không chỉ gây ô nhiễm môi trường cục bộ mà còn hình thành một thói quen xấu, ảnh hưởng đến việc xây dựng một xã hội văn minh và phát triển bền vững.

2.2. Nguyên nhân sâu xa của sự hạn chế trong ý thức bảo vệ tự nhiên

Nguyên nhân của những hạn chế trong ý thức bảo vệ tự nhiên không chỉ nằm ở bản thân giới trẻ mà còn ở hệ thống giáo dục và môi trường xã hội. Các chương trình giáo dục môi trường còn thiếu tính tương tác và trải nghiệm thực tế. Gia đình chưa thực sự là tấm gương trong việc hình thành lối sống xanh. Bên cạnh đó, các chế tài xử phạt đối với các hành vi gây ô nhiễm môi trường chưa đủ sức răn đe. Việc thiếu các không gian công cộng lành mạnh, đặc biệt là các thiết chế văn hóa - giáo dục như bảo tàng, đã làm giảm cơ hội để giới trẻ học hỏi và nâng cao nhận thức một cách tự nguyện và hứng thú.

III. Vai trò của Bảo tàng Địa chất trong giáo dục môi trường

Bảo tàng Địa chất Việt Nam, với tư cách là một bảo tàng chuyên ngành cấp quốc gia, đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong hệ thống giáo dục ngoài nhà trường. Đây không chỉ là nơi lưu giữ, trưng bày các mẫu vật về di sản địa chất Việt Nam mà còn là một trung tâm giáo dục khoa học, có khả năng định hướng văn hóa ứng xử với tự nhiên của giới trẻ Hà Nội. Được thành lập từ năm 1914, bảo tàng hiện đang lưu giữ hơn 44.000 mẫu vật, tài liệu phản ánh sự giàu có và đa dạng của tài nguyên khoáng sản quốc gia. Thông qua các hoạt động của mình, bảo tàng thực hiện chức năng phổ biến tri thức về lịch sử hình thành Trái Đất, cấu trúc địa chất, và tiềm năng tài nguyên của đất nước. Đây chính là nền tảng để xây dựng ý thức bảo vệ tự nhiên và trách nhiệm với môi trường. Vai trò của bảo tàng trong giáo dục được thể hiện rõ nét qua hệ thống trưng bày khoa học, logic. Khách tham quan, đặc biệt là học sinh, sinh viên, có cơ hội được tiếp cận với những bằng chứng vật chất về sự tiến hóa của sự sống, sự quý giá của tài nguyên và những tác động của con người đến môi trường. Thông điệp mà bảo tàng gửi gắm là “bảo vệ thiên nhiên chính là bảo vệ cuộc sống của chúng ta”. Bằng cách biến những kiến thức địa chất học khô khan thành những câu chuyện hấp dẫn qua hiện vật, bảo tàng đã góp phần khắc phục tình trạng mất cân đối giữa các bảo tàng xã hội và bảo tàng thiên nhiên, tạo ra một không gian học tập trải nghiệm tại bảo tàng độc đáo và bổ ích.

3.1. Giới thiệu Bảo tàng Địa chất Việt Nam Di sản địa chất quốc gia

Bảo tàng Địa chất Việt Nam là bảo tàng cấp quốc gia hạng I, có chức năng nghiên cứu, thu thập, lưu trữ và trưng bày các mẫu vật, vật phẩm minh họa về địa chất. Với lịch sử phát triển hơn một thế kỷ, bảo tàng là nơi lưu giữ những bộ sưu tập mẫu vật gốc phong phú và quý hiếm nhất về địa chất - khoáng sản Việt Nam. Đây là minh chứng sống động cho di sản địa chất Việt Nam, khẳng định tiềm năng và vị thế của một bảo tàng chuyên ngành hàng đầu về khoa học Trái Đất tại Việt Nam. Bảo tàng không chỉ phục vụ giới nghiên cứu mà còn là điểm đến giáo dục quan trọng cho công chúng, đặc biệt là thế hệ trẻ.

3.2. Nội dung trưng bày và giá trị giáo dục về văn hóa sinh thái

Hệ thống trưng bày của bảo tàng được bố trí khoa học trên diện tích 1200m², bao gồm các chủ đề chính như: Lịch sử địa chất Việt Nam, Địa chất và khoáng sản Việt Nam, và các sưu tập chuyên đề. Các mẫu vật từ hóa thạch cổ sinh, khoáng vật, đá quý đến các mô hình về cấu trúc địa chất giúp người xem hình dung một cách trực quan về lịch sử hàng trăm triệu năm của Trái Đất. Nội dung này không chỉ cung cấp kiến thức mà còn giáo dục về văn hóa sinh thái, giúp công chúng, đặc biệt là giới trẻ thủ đô, nhận thức được sự hữu hạn của tài nguyên và tầm quan trọng của việc khai thác, sử dụng hợp lý để phát triển bền vững.

IV. Cách định hướng văn hóa ứng xử tại Bảo tàng Địa chất

Để định hướng văn hóa ứng xử với tự nhiên của giới trẻ Hà Nội, Bảo tàng Địa chất Việt Nam đã triển khai nhiều phương pháp giáo dục đa dạng, sáng tạo, biến không gian trưng bày tĩnh thành một môi trường học tập tương tác. Trọng tâm của các hoạt động này là công tác hướng dẫn tham quan, được thiết kế phù hợp với từng đối tượng cụ thể. Bảo tàng xác định hệ thống trưng bày chính là “ngôn ngữ” đặc trưng, là cầu nối hiệu quả nhất giữa di sản và công chúng. Thông qua việc tổ chức các tour tham quan có hướng dẫn, bảo tàng không chỉ truyền đạt thông tin khoa học mà còn lồng ghép các thông điệp về giáo dục môi trườngý thức bảo vệ tự nhiên. Các cán bộ thuyết minh được đào tạo chuyên sâu, có khả năng biến những thuật ngữ địa chất phức tạp thành kiến thức dễ hiểu, hấp dẫn. Hai hình thức hướng dẫn chính được áp dụng là tham quan khái quát và tham quan theo chủ đề. Mỗi hình thức đều nhằm mục đích cuối cùng là nâng cao nhận thức về môi trường của sinh viên và học sinh, giúp họ hiểu rõ hơn về giá trị của di sản địa chất Việt Nam và trách nhiệm của mỗi cá nhân trong việc bảo tồn các giá trị đó. Những hoạt động này là minh chứng rõ nét cho vai trò của bảo tàng trong giáo dục, đặc biệt là trong việc hình thành nhân cách và lối sống có trách nhiệm cho thế hệ tương lai.

4.1. Mô hình tham quan khái quát cho đại chúng và giới trẻ

Tham quan khái quát là hình thức phổ biến nhất, phục vụ đại đa số công chúng, chiếm khoảng 90% lượt khách hàng năm. Mục đích của hình thức này là giới thiệu một cách tổng quan về lịch sử tiến hóa địa chất, sự đa dạng của khoáng sản Việt Nam. Đối với các đoàn học sinh, sinh viên, cán bộ hướng dẫn sẽ tập trung vào những nội dung cốt lõi, nêu bật tư tưởng chủ đạo của hệ thống trưng bày. Cách tiếp cận này giúp giới trẻ có cái nhìn chung nhất về sự giàu có của tài nguyên thiên nhiên, từ đó khơi gợi lòng tự hào dân tộc và bước đầu hình thành ý thức bảo vệ tự nhiên.

4.2. Phương pháp tham quan theo chủ đề cho hoạt động học tập

Tham quan theo chủ đề là hình thức học tập trải nghiệm tại bảo tàng chuyên sâu, hướng đến các đối tượng có nhu cầu nghiên cứu, học tập cụ thể như sinh viên các ngành Mỏ - Địa chất, Môi trường, Xây dựng, Sư phạm. Dựa trên yêu cầu của đoàn, bảo tàng sẽ xây dựng nội dung tham quan tập trung vào một hoặc một vài chủ đề nhất định như cổ sinh vật, khoáng sản kim loại, hoặc cấu trúc địa chất khu vực. Hình thức này giúp minh họa sinh động cho các bài giảng lý thuyết trên lớp, củng cố kiến thức chuyên ngành và tạo cảm hứng say mê nghiên cứu khoa học. Đây là một hoạt động ngoại khóa về môi trường và khoa học vô cùng hiệu quả, giúp nâng cao chất lượng đào tạo và định hướng nghề nghiệp cho sinh viên.

14/08/2025
Luận văn thạc sĩ văn hóa học định hướng văn hóa ứng xử với tự nhiên của giới trẻ hà nội qua hoạt động giáo dục tại bảo tàng địa chất việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Cơ sở lý luận về định hướng văn hóa ứng xứ với tự nhiên của giới trẻ Hà Nội và tổng quan về Bảo tàng Địa chất Việt Nam Chương 2: Các hoạt động giáo dục định hướng văn hóa ứng xử với. tự nhiên của giới trẻ Hà Nội tại Bảo tàng Địa chất Việt Nam Chương 3: Những vấn đề đặt ra đối với việc định hướng văn hóa ứng. xử với tự nhiên của giới trẻ Hà Nội tại Bảo tàng Địa chất Việt Nam 13 Chuong 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỊNH HƯỚNG VĂN HÓA UNG XU 'VỚI TỰ NHIÊN CỦA GIỚI TRẺ HÀ NỘI VA TONG QUAN VE BAO TANG DJA CHAT VIET NAM 1. Cơ sở lý luận về định hướng văn hóa ứng xử với tự nhiên của giới trẻ Hà Nội 1.

Cơ sở lý luận về định hướng văn hóa ứng xử với tự nhiên 1. Khái niệm văn hóa ứng xử * Khái niệm ứng xứ Ứng xử là một từ ghép gồm “ứng” và “xứ”. Theo Từ điển tiếng Việt (2010) của Viện Ngôn ngữ học thì nghĩa của từ “ứng” mang 2 nội dung chính. Đầu tiên là đáp lại, lên tiếng đáp lại lời kêu gọi.

Thứ 2 là có mối quan hệ phủ. hợp tương đối với nhau. Còn “xử” có nghĩa là hành động theo cách nào đó, thể hiện thái độ đối với người khác trong một hoàn cảnh nhất định. xử” là những biểu thị phản ứng của con người trong các mối quan hệ của họ qua đó thể hiện được thái độ chủ thể [31, tr70).

“Theo quan niệm của các nhà nghiên cứu tâm lý học, “ứng xử” là một biểu hiện của giao tiếp. "Ứng xử” là sự phản ứng của con người trước sự tác động của người khác với mình trong một tình huồng nhất định được thể hiện qua thái độ, hành vi, cử chỉ, cách nói năng của con người nhằm đạt kết quả tốt trong mỗi cquan hệ giữa con người với nhau. Xét trên điện nhân cách thì bản chất của ứng xử chính là những đặc điểm tính cách của cá nhân được thể hiện qua thái độ, hành vi, cử chỉ và cách nói năng của cá nhân với những người xung quanh. Xét trén góc độ sinh học, các nhà khoa học cho rằng “ứng xử” có nghĩa là “toàn thể những phản ứng thích nghỉ có thể quan sát được khách tham quan mà một cơ chế, một hệ thống thần kinh thực hiện đẻ đáp trả lại những kích 14 thích.

Điều đáng chú ý là những phản ứng ấy (những ứng xử, xử lý để đáp ứng được diễn ra theo cách tương đối ổn định” [7, tr.123] “Theo tác giả Đoàn Văn Chúc (1997), để xác định một cách ứng xử nào đó là ứng xử văn hóa hay không người ta thường xét trên 4 yếu tố sau đây: ~ Ứng xử được thường xuyên lặp đi lặp lại, tức là tính thời gian của. ứng xử, ~ Ứng xử được lặp đi lặp lại tương đối theo cùng một cách bởi nhiễu. người, tức là tính không gian của ứng xử; ~ Ứng xử ấy có tác dụng kim chỉ nam mẫu mực hay quy tắc cho các. thành viên của một nhóm hay một xã hội; ~_ Ứng xử ấy chứa đựng một ý nghĩa xã hội nào đấy, tức nó biểu thị kiến thức tư tưởng hoặc tình cảm mà chủ thể đã đạt được, nói cách khác nó là cái mang vác một giá trị (kinh tế, chính trị, luân lý hay.

thâm mỹ) [7, tr. Trong xã hội học, “ứng xử” dùng dé chỉ cách hành động hoặc cách nói của một vai trò xã hội này đối diện với một vai trò khác. Ví dụ như một cặp vai trò vợ/chồng, cha/con, cấp trên/cấp dưới. Tuy nhiên, ứng xử không chỉ giới hạn giữa các vai trò xã hội với nhau, còn là ứng xử với mình, ứng xử với đồ vật, tự nhiên Những ứng xử của con người trong “các mối liên hệ” của mình được lặp di lap lại theo cùng một cách thức trong cùng một xã hội, theo thời gian dần dần được lựa chọn, tập hợp, khái quát hóa và trở thành những khuôn mau ứng xử của xã hội ấy.

Khuôn mẫu ứng xử của một xã hội không chỉ là tập hợp. những quy tắc mang tính chuẩn mực mà nó còn chứa đựng những giá trị Những giá trị đó được coi là mẫu mực để áp đặt lên các thành viên xã hội khi họ phải hành động theo một cách nào đó, được tiêu chuân hóa làm. thước đo để phân biệt cái nên hay không nên, đúng hay sai, ứng xử như thể 15 nào thì mới là có văn hóa. Nhưng trong thực tế không có mô hình tổ chức nào cố định cho tat ca moi xã hội và cũng không có khuôn mẫu ứng xử nào chung.

cho tất cả mọi mô hình xã hội. “Ứng xử” cũng có thể được coi như một khái niệm nhân học văn hóa. Đối tượng của nhân học văn hóa rất rộng nhưng chủ yếu là nghiên cứu con người, coi con người như là những sinh vật có tính xã hội và tính văn hóa. Trong cuốn “Ứng xử văn hóa trong du lịch” (2010) tác giả Trần Thúy.

Anh cũng cho rằng, một đặc điểm nỏi bật của ứng xứ con người khác hẳn con vật, là con người sống trong một thế giới biểu trưng và ước lệ mà những nhà nhân học gọi là văn hóa. Trong khung cảnh văn hóa, con người có khả năng gán cho những vật (vật chất sống và vô sinh trong thiên nhiên) và cho những ứng. xử một ý nghĩa ước định mà họ bắt buộc phải theo như là một bộ. phận của thế giới hiện thực.

Ở những vùng văn hóa khác nhau có chứa những biểu trưng và ước lệ khác nhau, khiến và buộc con người cần ứng xử khác nhau cho phù hợp. Rõ ràng là, ứng xử con. người ở các nước, các vùng khác nhau thì không giống nhau do các. nên văn hóa khác nhau.

Còn ứng xử của con vật ở khắp nơi thi hau như giống nhau vì chúng không có văn hóa nhưng điều đó không hẳn là chúng không có tư duy. Bởi vậy con người mới là sinh vật đặc biệt và theo đó, ứng xử của con người cũng được xếp là ứng xử. đặc biệt - ứng xử văn hóa [1, tr25] Qua đó có thể thấy ứng xử của con người (cá nhân hay cộng đồng) phản ánh 2 mối liên hệ cơ bản. Đầu tiên, nói đến ứng xử là nói đến cách xử trí trong quan hệ giữa người với người hoặc giữa cá nhân với cộng đồng trước những sự kiện hoặc sự việc cụ thể.

Thứ 2, ứng xử cũng là một phương diện cấu thành của văn hóa, là biểu hiện tổng hợp của văn hóa 7 Trong công trình “Cơ sở văn hóa Việt Nam”, tác giả Trần Ngọc Thêm không trình bày một định nghĩa về văn hóa ứng xử nhưng đã xác định những nội hàm của khái niệm này. Tác giả cho rằng, các cộng đồng chủ thể văn hóa tồn tại trong quan hệ với hai loại môi trường: tự nhiên (thiên nhiên, khí hậu.) và môi trường xã hội (các dân tộc, quốc gia, láng giềng. Với mỗi loại môi trường đều có cách thức xử thế phù hợp là tân dụng môi trường (tác động tích cực) và ứng phó với môi trường (tác động tiêu cực) [37, tr. Nhu vay, “văn hóa ứng xử” qua đó được khái quát là một kiểu xử thể phù hợp của con người với môi trường, xã hội và với chính bản thân con người.

Cũng dựa trên những quan điểm tương tự, trong công trình “Văn hóa ứng xử của người Thái trong gia đình và ngoài xã hội qua ca dao”, tác giả Pham Phương Thùy cũng được ra một khái niệm về văn hóa ứng xử. Theo đó: 'Văn hóa ứng xử là hệ thống những khuôn mẫu ứng xử, chuẩn mực. ứng xử trong các mối quan hệ ứng xử của con người với các đối tượng. khác, được thể hiện qua ngôn ngữ hành vi, nếp sống.

Cùng với tiến trình phát triển không ngừng hoàn thiện của đời sống. con người, hệ thống đó được tiêu chuẩn hóa, xã hội hóa và trở thành chuẩn mực của mỗi cá nhân, nhóm xã hội hay toàn bộ xã hội, nó phù hợp với đời sống xã hội, với bản sắc của văn hóa dân tộc, quốc gia, được cá nhân, cộng đồng, xã hội thừa nhận và tuân theo [38, tr.16] Nhóm tác giả cho rằng văn hóa ứng xử được hình thành từ các khuôn mẫu ứng xử, từ các hoạt động trong quan hệ của con người với tự nhiên, môi trường xã hội đã hình thành những khuôn mẫu ứng xử của con người đối với thế giới thiên nhiên, xã hội và đối với nhau. Cái khuôn mẫu ứng xử này được hiểu một cách giản đơn là những ứng. xử đã được cộng đồng chấp nhận.

Từng cá nhân trong xã hội có thể vận dụng 18 quy tắc đó vào những tình huống khác nhau, nhưng có cùng một loại nghĩa. Nói cách khác là họ phải ứng xử theo cách mà các thành viên khác mong chờ. “Theo quan niệm này, thì việc ứng xử tuân theo đúng những khuôn mẫu chuẩn. mực và những giá trị chuẩn mực này được cho là ứng xử văn hóa.

“Những, ứng xử văn hóa này được lặp đi lặp lại thành nếp và được kết cấu, định vị với nhau trong hệ thống văn hóa lớn hơn gọi là văn hóa ứng xử” [38, tr 15] Tuy nhiên, các khuôn mẫu ứng xử văn hóa hay văn hóa ứng xử luôn có tính lịch sử - cụ thể. Nghĩa là nó luôn gắn liền với điều kiện, môi trường cụ thể nhất là điều kiện kinh tế - xã hội và khi những điều kiện này thay đổi thì nó cũng sẽ có sự điều chỉnh cần thiết cho thích hợp. Như vậy có thể xem văn hóa ứng xử là một thành tố không thể tách rời của của văn hóa nói chung, nó bao hàm cả phương thức của con người với thiên nhiên. Xét trên phương diện hoạt động, văn hóa ứng xử là một hệ thống các hành vi nhằm thực hiện những khuôn mẫu mang tính lý tưởng kết tỉnh những giá trị và chuẩn mực xã hội nhằm bảo tồn, phát triển cuộc sống của cá nhân và cộng đồng hướng đến cái đúng, cái tốt, cái đẹp.

Trong phạm vi nghiên cứu, luận văn chỉ đề cập đến văn hóa ứng xử giữa con người với tự nhiên. Khải niệm về vẫn hóa ứng xử với tự nhiên * Tự nhiên Tự nhiên là tập hợp các điều kiện địa lý tự nhiên của một vùng đất lãnh thổ có tác động trực tiếp đến mức sống của dân cư và các chỉ tiêu kinh tế trong vùng lãnh thổ ấy [31, tr. Theo wikipedia thi: Tự nhiên hay cũng được gọi thiên nhiên, thế giới vật chất, vũ trụ và thể giới tự nhiên, là tất cả vật chất và năng lượng chủ yếu ở dạng, 19 ban chat.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ