Mở đầu cuốn gia phả họ Trần Văn ghi: “Cái Van gia chi hữu phủ ro quốc chỉ hữu. Sử dã ngã Trằn tộc phải x it DongA 17 Ngọc điệp kim chỉ hữu hoa kỳ kế. Ngã Cẩm Nang thôn cô Trân triều thang Châu dã” (Dòng họ Trần ở Cam Nang thuộc dòng kim chỉ ngọc diệp, xuất phát từ dòng họ Đông A của vua nhà Trần). Theo ông Phạm Văn Án, thành viên của Hội văn học nghệ thuật Nam Định thì vùng đất Thiên Bản xưa (tức huyện Vụ Bản) vốn gắn liền với hành.
cung Thiên Trường (Mỹ Lộc) của các Thái Thượng hoàng nhà Trần nên các vương hầu quý tộc, các bậc phu nhân, công chúa thường về đây lập điền trang, thái Ấp để ở và tu hành. Công chúa Thuy Bảo con gái thứ ba vua Trần Thái Tông đã về thôn Bắc Hàm xã Thi Liệu (nay là xã Đại Thắng, Vụ Bản). “Theo Văn bia của đền bà Quốc mẫu còn ghi lại, Bà thấy bãi đất ven sông khá xông mà dân cư thì thưa thớt nên đã chiêu dụ dân các nơi về lập nghiệp, lập điền trại, lập chợ, lập bến sông để buôn bán, chài lưới. Sông này không phải là sông Đào mà chỉ là một chỉ lưu của sông Vị Hoàng chảy vào sông Day.
Còn sông Đào đời nhà Nguyễn mới cho đào thêm 1 đoạn sông ở phía bắc liền với sông Hồng. Từ đấy con sông này cũng được mở rộng thêm và đầu có tên là sông Đào. Đất Nam Giang cách Thi Ligu - Thiên Bản qua sông Đào và một đoạn đường ngắn. Như vậy, có thê những người thuộc dòng dõi nhà Trần cũng là những người đầu tiên từ Thiên Bản di cư sang Nam Giang khai phá đất hoang lập trang trại và sau đó các họ khác cũng từ các nơi kéo về sinh sống.
Cũng theo Đoàn Xuân Hiền, buổi sơ khai làng chỉ có trên chục nóc nhà với dăm chục dân nằm lọt thôm trong rừng cây rậm rạp mà dấu tích là khu má. chiền sau đền làng vẫn còn tới năm 1957 - 1959 mới bị chặt phá để lập xưởng. bánh kẹo - xi dầu. “Trong suốt quá trình lâu dài khai hoang, vượt thổ, cu dan trong ving da lập nên xóm làng như ngày nay.
Hai nơi đã được dân cư khai phá thành xóm 18 làng gần đây nhất là xóm Trại Găng (cách đây khoảng 130 năm) và xóm Vượt (cách đây khoảng 100 nam), Nam 1940 ~ 1941, trục đường chính của làng cũng được nhân dân góp tiền để lát gạch tạo điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội trong vùng. Từ 2005, xã Nam Giang đã nâng cấp lên thành thị trin Nam Giang, với 55. Không chỉ dừng lại ở số lượng mà chất lượng cuộc sống của cư dân trong huyện ngày càng được cải thiện. Năm 2009, tuổi thọ của người dân trong xã trung bình là 75,3 (năm)/bình quân cả nước 70,9.
Đời sống kinh tế văn hóa xã hội của nhân dân xã Nam Giang đã có nhiều thay đổi nhưng những nét truyền thống văn hoá lịch sử trên mảnh đất này vẫn mãi được lưu giữ trong công đồng dân cư. Đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội 1. Đời sống kinh tế ~ Nông nghiệp Như đã trình bày, điều kiện địa lý tự nhiên đã quy định cơ sở kinh tế chính của làng là nông nghiệp chiêm trũng. Tuy nhiên, dưới chế độ phong kiến, chế độ sở hữu ruộng đất manh mún và cơ sở vật chất kỹ thuật lạc hậu không hỗ trợ để làm thuỷ lợi cải tạo đồng ruộng nên không tạo ra cho nông nghiệp một năng xuất cao.
Theo các bậc cao niên trong làng, các loại giống. lúa được cấy trên các xứ đồng của làng xưa kia là chiêm bầu (cây có thân cứng và cao, khả năng chịu lạnh tốt) được cấy ở các chân ruộng sâu và chiêm dé (hay chiêm canh nông) được cấy ở những chân ruộng cao. Năng suất của các loại lúa này rất thấp; bình quân mỗi sào chỉ được 3 cối thóc (mỗi cối bằng, 16 đấu, mỗi đấu bằng 1,3 kg hiện nay). 19 Ngày nay đất nông nghiệp ở Nam Giang được chia làm 2 vùng rõ rêt: Cánh đồng phía trước làng và cánh đồng phía sau làng Cánh đồng phia trước làng được tính từ giữa làng tới khu ré nước và được giới hạn bởi con mương nhỏ với phần đất xã Nam Dương ở phía Nam.
Chiều rộng theo chiều nam - bắc khoảng 800m. Chiều dài theo đông tây kéo. dài từ cánh đồng thôn Nhì ở phía đông và cánh đồng thôn Tư ở phía tây dài khoảng 1200m, với diện tích cánh đồng trước trên 100 ha. Đất thuộc loại có.
độ phì nhiêu trung bình và thấp, năm canh tác hai vụ: Vụ chiêm từ tháng 10 <dén thang 4 năm sau, vụ mùa từ tháng Štới tháng 9. Vụ chiêm trồng hoa mau các loại cây khoai, lạc, ngô, dưa hấu, bí. Khoai lang chợ Chùa ngon nỗi tiếng khắp vùng, vỏ mỏng, màu tím nhạt, khi luộc chín bở từ trong tới ngoài, khi ăn có vị thơm đặc trưng, bùi và ngọt mát. Ăn khoai lang luộc với dưa hấu.
đỏ và cùng với bát nước chè tươi Thanh Khê là món ăn độc đáo của vùng này. Vào thời kỳ nông nhàn (tháng 7,8) các nhà đem khoai lang khô giã nhỏ, nấu với đỗ đen và lạc rồi đem đổ ra mâm, nén chặt để nguội rồi cắt ra thành miếng, ăn rất ngon, thay cho bữa. hoặc bữa sáng. 'Vụ mùa cũng là mùa mưa cánh đồng trước được cấy lúa, bao gồm các.
giống lúa Hin, mộc tuyển, tám. cùng các loại lúa nếp như nếp bắc, nếp cái hoa vàng, Cánh đồng sau làng bao gồm suốt giải từ phía tây đường 55, tới làng. Hau(sau thôn Nhì) ở phía đông, dài khoảng 1500m chiều rong tir ria làng tới sông Vân rộng khoảng 300m, nhưng tới hết làng Vân Chàng về phía đông được mở rộng tới giáp thôn Thanh Khê, ở phía đông bắc và rộng tới trên §00m. Diện tích cánh đồng sau làng khoảng 160 ha, đất thuộc loại màu mỡ phì nhiêu.
Năm 2 vụ chiêm mùa, vụ chiêm từ tháng Chạp tới hết tháng 5 năm 20 sau, vụ mùa từ tháng 6 đến tháng 10, năng suất lúa vụ chiêm thường cao hơn vụ mùa vì không bị úng ngập do trời mưa. ' Nam Giang cũng có nhiều loại cây ăn quả, nhiều chủng loại bao gồm. cả các giống phô biến ở vùng rừng núi, đến các loại giống từng được chăm ở vùng đồng bằng. Các loại cây ăn quả truyền thống ở Nam Giang từng có mít, dứa, vải, nhãn, bưởi, na, chay, hồng, cam, chanh, quất, chuối, dừa.
Các loại cây cảnh và cây thuốc được trồng khắp mọi xóm thôn. mỗi gia đình đều có một số loại cây như các loài sen, cúc, tường vi, ngọc lan, da hương, nhài, hug, lan, hải đường, hồng, thược dược, phù dung, thuỷ tiên, ngọc trâm, mẫu đơn, ngải cứu, rau má. “Trong chăn nuôi đàn gia súc, gia cằm chủ yếu gồm trâu, bò, lợn và gà. gà ở đây chủ yếu là giống gà ri, giống nhỏ, đễ nuôi, thịt ngon, mắn đẻ.
Thức ăn cho gia cằm chủ yếu sử dụng các nông sản được thu hoạch từ các vụ lúa, vụ màu của quê hương. ~ Thủ công nghiệp Nghề thủ công nghiệp truyền thống ở Nam Giang là nghề rèn. Ở đây, chủ yếu là rèn sắt, làm ra các sản phẩm là nông vụ (cay, cude, mai, thudng, liém, hái.) hoặc các dụng cụ phục vụ lao động và sinh hoạt (búa, rìu, đao, kéo. Nhu cầu các sản phẩm trên là rất lớn, vì trong.
nông thôn Việt Nam xưa kia như mỗi làng hoặc cụm một vài làng lại có một hoặc vài ba lò rèn. Làng rèn Vân Chàng có từ rất sớm. Tương truyền, vào đời. vua Trần Nhân Tông (1279-1293), nghề rèn đã được du nhập vào Văn Chàng.
'Khi đó làng có 15 cụ tổ thuộc 15 dòng họ gồm Đoàn, Trần, Vũ, Nguyễn, Đỗ, Ngô. được sáu ông thầy từ nơi khác đến truyền dạy. Để ghi nhớ công lao, 2 quê hương Vân Chang da t6n sau éng thay day nghé la Luc vi Thánh sư, lập đền thờ làm Thành hoàng của làng Trước la, vào năm 1426, khi nghĩa quân Lam Sơn tiến ra Bắc, một thanh niên người họ Đoàn đã đứng ra tập hợp dân làng đứng lên giết giặc, được phong Dũng tráng Dai tướng quân. Biết nơi đây có nghề rèn, Bình Định 'Vương Lê Lợi đã giao cho dân làng nhiệm vụ rèn vũ khí cho nghĩa quân.
Từ đó đến nay, nghề rèn Vân Chàng liên tục tổn tại và phát triển. Thời xa xưa Vân Chàng chỉ sản xuất được một số mặt hàng đơn điệu mang tính thủ công như dao, kéo, bản lẻ, đinh, ốc vít, bếp kiểng, cuốc xẻng,, răng cào. Mấy chục năm trở lại đây, làng nghề Vân Chàng từng bước phát triển. Sản phẩm của họ một phần đã được cơ giới hóa với kỹ nghệ tỉnh xảo, mẫu mã đẹp đạt độ bền cao trong sử dụng, nhất là các phụ tùng xe đạp.
Chính nhờ những mặt hàng này, trên chục năm trước hai hợp tác xã Tân Tiến và Tiền Tiến của đại phương trở thành đơn vị tiên tiến xuất sắc trong ngành công. nghiệp — tiểu thủ công nghiệp. Do cơ chế thị trường, hai hợp tác xã cơ khí đã giải thẻ, song nghề cơ khí ở Vân Chàng lại phát triển chưa từng có. 95% số hộ trong làng vẫn tâm huyết với nghề; 2/3 số hộ, cơ sở sản xuất được trang bị máy móc.
sản xuất ngày một nhiều, làm cho mặt hàng của Vân Chàng ngày một phong. phú, tân tiến. Riêng kéo đã có mấy chục loại, chất lượng tốt. Mỗi máy thụt, máy đùn, máy nặn ở Vân Chàng một ngày có thể sản xuất 150 4m hoặc xoong.
nhôm, 100 đôi vành hoặc chắn bùn, 200-300 pêđan, 400-500 chân chồng xe. Mọi phế liệu được chuyển vẻ Vân Chàng, đều trở thành đồ vật hữu ích, đạt hiệu quả sử dụng cao. Ngày ngày, hàng của Vân Chàng đi khắp nơi trong. nước, sang cả Lào, Campuchia.
2 Sản phẩm nghề rên Vân Chàng rất đa dạng, phục vụ mọi nhu cầu sản xuất và đời sống. Có những sản phẩm rất nỗi tiếng, như khoá hòm đẹp và tốt. Nhiều sản phẩm có giá trị nghệ thuật cao nay vẫn còn được lưu giữ ở Bảo tàng tỉnh Nam Định như cây đèn sắt lưỡng long chằu nguyệt với 36 ngọn đèn cao hơn hai mét, cây đèn nhị thập bát tú với 28 ngọn đèn cao gin ba mét.) 'Do có nghề thủ công phát triển, Vân Chàng xưa cũng là một trung tâm thương mại sằm uất trong vùng. Trong làng có chợ Chùa bán mua đủ mọi hàng hoa, có chợ sắt Vân Chàng bán mua các sản phẩm và nguyên liệu nghề rèn và đặc biệt có chợ Viềng mỗi năm chỉ họp duy nhất một phiên vào ngày 8 tháng giêng - một hình thức chợ Xuân.
Làng có 80 cửa hàng dịch vụ đời sống, một chợ họp chiều.