Chương 1 TONG QUAN VE PHAT GIAO VA VE THOI DAILY - TRAN O VIET NAM giáo và Phật giáo ở Đại Việt từ thế ki XI đến thé ki XIV (thời đại Lý - Trần) 1. Phật giáo - một thực thể văn hóa. "Văn hóa bao gồm toàn bộ những hoạt động sáng tạo và những giá trị của nhân dân một nước, một dân tộc về mặt sản xuất vat chat va tinh than trong sự. nghiệp dựng nước và giữ nước.
Trên thế giới, văn hóa được hiểu theo nghĩa nhân văn rất rộng dựa trên định nghĩa miêu tả và định nghĩa nêu đặc trưng. nên có hàng trăm, hàng nghìn con số không thống kê được chính xác các khái niệm về văn hóa. Chúng tôi mượn lời Chủ tịch Hồ Chí Minh, danh nhân văn hóa thế giới đưa ra quan niệm về văn hó; Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích cuộc sống, loài người sáng tạo và. phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt ig ngày về ăn, mặc, ở, các phương thức sử dụng.
Toàn bộ những sáng tạo và phat minh, đó tức là văn hóa [37, tr. Nhu vay, tôn giáo vừa là hình thái ý thức xã hội vừa là thực thể văn hóa, hay nói một cách khác tôn giáo là một thành tố, một lĩnh vực của văn hóa. 'Về Phật giáo, chúng ta không có Phật giáo Việt Nam như một tôn giáo dân tộc, giống đạo Cao Đài hay đạo Hòa Hảo và một số tôn giáo khác. Phật giáo vào Việt Nam đã trên hai ngàn năm, tồn tại và phát triển trên nền cảnh văn hóa dân tộc, cho nên ít nhiều mang đặc điểm riêng của văn hóa Việt Nam.
Nói đến Phật giáo Việt Nam là nói đến Phật giáo của người Việt Nam, nói đến đặc điểm, tính chất Việt Nam của Phật giáo Việt Nam. Ngược trở lại, Phật giáo ở Việt Nam cũng tác động đến văn hóa Việt Nam nói chung và văn hóa nghệ thuật Việt Nam nói riêng. Sự ra đời của Phật giáo Sự phân chia đẳng cấp khắc nghiệt của Bà La Môn và vấn đề giải thoát con người mang tính chất đặc ân, đặc quyền dẫn đến nguyên nhân thúc đẩy sự. xuất hiện của trường phái triết học chống lại Bà La Môn, dẫn đến sự ra đời của Phật giáo ở Án Độ thời cổ đại.
Đức Phật Thích Ca, thủy tổ Phật giáo, tên thật là Tắt Đạt Đa (Sidharta) thuộc bộ tộc Thích Ca (Sakya) sinh tại miễn Bắc Án Độ cô, họ Cỏ Đàm (Gautama), con vua Tịnh Phạn (Suddhohana) quốc vương tiểu vương quốc. Gia Tỉ La (Kapila) đóng đô ở Ca Tì La Vệ (Kapilavastu) nay thuộc Nêpan. Phật giáo Bắc Tông theo thư tịch Trung Quốc cho rằng Tất Đạt Đa sinh vào ngày mùng tám thang tư âm lịch, năm thứ 9 đời Chu Trang Vương (năm 668 tCn. Phật giáo Nam Tông cho rằng Tắt Dat Da sinh vào ngày trăng tròn tháng Vaisakha năm 623 tCn.lấy ngày rằm tháng tư làm ngày Phật đản.
Sau khi lấy vợ và sinh một con trai, năm 29 tuổi Tắt Đạt Đa bắt mãn với chết độ giai cắp chủng tính đương thời, thấy cuộc đời con người có những nỗi khổ i sinh, lão, bệnh tử, từ bỏ cha mẹ, vợ con, bỏ giàu sang chốn cung đình vào. Đắc đạo năm 36 tuổi, Tắt Đạt Đa chu du khắp các nước ở lưu vực sông Hằng để truyền giáo thuyết pháp trong 40 năm và tịch năm 80 tuổi. “Tu luyện thành Phật, Buddha - Vô Thượng Phật Đà (Đắng Giác Ngộ) là danh hiệu do Tắt Đạt Đa tự xưng. Các đệ tử quy y Tắt Đạt Đa gọi Tất Đạt Đa là Thế Tôn (Bhagavat), là Thích Ca Mâu Ni (Sakyamuni).
Ở Trung Quốc và. 'Việt Nam các cao tăng thường lấy pháp danh có chữ Thích đứng đầu để chỉ dong ho Thich, theo quan niệm huyết thống Tắt Đạt Đa là con người có thật và Thích Ca Mâu Ni (nhà thông thái họ Thích Ca) là vị Phật lịch sử. Thế giới quan Phật giáo kế thừa truyền thống của triết học Án Độ gi thích thế giới được tạo thành từ sự kết hợp các nguyên tử. Phật giáo đưa thêm.
các vật hàm không màu, không mùi, không vị và cho rằng các nguyên tử kết hợp do sự vận động nội tại của các nguyên tử. Sự hợp tan giữa các nguyên tử theo quy luật nhất định. Phật gọi đó là luật nhân quả, nhân duyên. Luật nhân quả, nhân duyên quy định sự tồn tại, biến đổi, hủy diệt của các sự vật, hiện tượng trên thế giới.
Phật giáo có chữ nghiệp, tiếng An Độ là #arma. Nghiệp có nghĩa gốc là. Nghề gì cũng phải thực hành. Do đó, nghiệp chuyển sang nghĩa là hành, hành động.
Theo quan điểm của đạo Phật, mỗi hành động của con người ta. trong xã hội đều có mục đích “ác hay *thiện”. Làm việc thiện sẽ sinh kết quả thiện, và ngược lại, làm việc ác sẽ sinh kết quả ác. Báo ứng nhân quả gọi là quả báo: “Dục trí tiền thế nhân, kim trí thụ giả thị.
Duc tri lai thé gid, kim sinh tác giả thị” (Muỗn biết cái nhân ở đời trước phải xem cái mà mình chịu. đựng ở đời này. Muốn biết cái quả đời sau, phải xem cái nhân ở đời này). Quả báo có thể xấu mà cũng có thể tốt.
Ba nguyên lí nhà Phật chỉ ra cái khổ, chỉ ra tam độc là tham, sân, sĩ và đề cao vị on người. Kết hợp với từ bi và thiền, Phật chỉ ra Niết Bàn (Nibbãna), một trạng thái tinh thần, một khoảnh khắc, khả năng siêu tận của. một nhà tu hành tự có, tự chứng để chuyển từ có sang không. Cơ cấu của Phật giáo Dựa vào hai quan niệm về Phật giáo: Phật giáo là một hình thái ý thức xã hội và Phật giáo là một lĩnh vực văn hóa chúng tôi trình bày cơ cấu của Phật giáo như sau Quan nigm thứ nhắt, Phật giáo với tư cách là một hình thái ý thức xã hội bao gồm hệ thống các quan điểm triết học về nhân sinh quan, xã hội quan; là hệ thống lí luận của đạo Phật về thế gian, về thế giới hay vũ trụ, về sự giải thoát con người với ba bộ phận: + Kinh tạng: tập hợp các bài giảng của Phật về con người và xã hội; -+ Luật tạng: còn gọi là giới luật, luật pháp, quy định của đạo Phật, + Luận tạng: phát triển triết thuyết của Phật do các học trò của Thích Ca Mâu Ni xây dựng nên.
'Về phương diện nhân sinh quan, triết học Phật giáo đề cập tới hai yếu tố co bản: Brahman và Atman. Brahman được xem như tỉnh thần của xã hội, của thế giới. Atman là sự biểu hiện của tính cá thé. Thé giới là một chuỗi vô cùng, tận của các chu kì sinh - tru - dj - diét.
Diệt là tiền đề tạo ra sự sinh, tạo ra chu ì mới. Khoảnh khắc chỉ là đơn vị thời gian ngắn. Thể giới là vô thường, không có gì là vĩnh hằng và bắt biến, không có khởi đầu cũng không có kết thúc. Không có ai tạo tác nên thế giới có thêm đặc tính vô tạo giả.
Sự vật, hiện tượng vừa là nó vừa không phải là nó, là sự biến đổi sắc và không. Con người do ngũ uẫn kết hợp mà thành. Trong ngũ uẫn, sắc là biểu thị của yếu tố vật chat (bao gồm tir dai: dat, nước, lửa, không khí); danh là yếu tố tỉnh thần; sự cảm thụ xuất hiện khi có tác động bên ngoài; tưởng (ấn tượng) và hành bao gồm các hoạt động của tư duy dẫn đến sự hình thành ý thức của con người. Quay trở lại, con người tạo thành ngũ uẫn.
Năm yếu tố này hợp tan, tan hợp. nên không có cái tôi, không có cái bản ngã đích thực dẫn đến con người là vô ngã Từ cơ sở nhận thức về thế giới như vậy, khổ đau của con người được Phật giáo tuyệt đối hóa. Dich cuối cùng của con người là thoát khỏi kiếp trằm luân, thoát khỏi nghiệp. Thuyết giải thoát là Tứ điệu đế.
Tứ diệu đế như bốn chân lí kì điệu luôn liên quan đến chúng sinh, đến từng con người, giúp. con người đi đến giải thoát gồm Khổ đề, Nhân đế, Diệt đề và Đạo đề. hơn vào các yếu tố tác giả, tác phẩm và nội dung còn đối với hội họa, kiến trúc, điêu khắc và nghệ thuật biểu diễn thì chỉ phân tích sự tác động một cách chung nhất. Quá trình tìm hiểu chúng tôi thấy do sự hạn chế của lịch sử, ở lĩnh vực văn chương tư liệu cỗ để lại có sự ghi chép rõ rằng, đầy đủ trong khi ở lĩnh vực nghệ thuật không có được sự ghi chép cụ thê vẻ tác giả, về xuất xứ của tác phẩm.
Sự xâm nhập của Phậ giáo vào đời sống người trình phát triển của Phật giáo thời đại Lý - Trần. Phật giáo là một hiện tượng văn hóa nước ngoài truyền vào Việt Nam, được nhân dân ta tiếp thu, vận dụng vào đời sống đã có những đóng góp nhất định trong lịch sử dựng nước, giữ nước của dân tộc. Lịch sử Phật giáo, vì thể trở thành một bộ phận của lịch sử dân tộc. Các nhà nghiên cứu đã chia lịch sử Phật giáo Việt Nam ra thành 5 giai đoạn như sau: - Giai đoạn thứ nhất, từ khi du nhập đến thế ki VI (544); ~ Giai đoạn thứ hai, từ thế ki VI dén thé ki X; - Giai đoạn thứ ba, từ thể ki XI đến thể ki XIV; ~ Giai đoạn thứ tư, từ thể ki XV đến thế ki XIX; ~ Giai đoạn thứ năm, từ thé ki XX dén nay.
Trong năm giai đoạn phát triển của Phật giáo ở Việt Nam, chúng tôi thay cần nhắn mạnh hai nội dung sau đây gắn với vắn đề nghiên cứu của luận văn: 1. Sự xâm nhập của Phật giáo vào đời sống người Việt Nhiều ý kiến cho rằng Phật giáo du nhập vào nước ta từ thời Hùng. 'Vương với câu chuyện Chử Đồng Tử, Tiên Dung làm bằng chứng. Theo học giả Lê Mạnh Thát, Nhất Dạ Trạch của Lĩnh Nam chích quái đã ghi lại việc 'Chữ Đồng Tử được nhà sư Phật Quang tại núi Quỳnh Viên truyền dạy giáo lí Phật giáo.
Nhà sư Phật Quang có thể là người Chiêm Thành, có thể là người 20 Ấn Độ đang tìm cách truyền bá Phật giáo vào Việt Nam. Vì vậy, Lê Mạnh “Thát cho rằng Chử Đồng Tử là người Việt Nam tiếp xúc với nhà sư và trở. 'thành Phật tử Việt Nam đầu tiên được ghi lại tên tuổi. Truyền thống Phật giáo.
quyền năng mà Chử Đông Tử tiếp thu xuất hiện trong Mâu Tử cũng như trong, Khương Tăng Hội, tồn tại cho đến khi truyền thống Phật giáo thiền của Pháp. Vân ra đời.