Chương 1 CƠ SỞ CHÍNH TRỊ, PHÁP LÝ VỀ VAI TRÒ CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM TRONG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ 1.1 Một số vấn đề lý luận chung về vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam 1.1 Quá trình hình thành - phát triển và những chức năng cơ bản của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Kế thừa, phát huy truyền thống yêu nước và đoàn kết của dân tộc, Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng. Ngay từ khi mới ra đời, Đảng đã chủ trương đoàn kết mọi lực lượng dân tộc và dân chủ trong một mặt trận thống nhất để cùng nhau chống kẻ thù chung vì độc lập tự do của Tổ quốc. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam - một hình thức tổ chức, hiện thân của Mặt trận Dân tộc Thống nhất Việt Nam, là tổ chức liên minh chính trị rộng lớn, một bộ phận của HTCT nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam sáng lập và lãnh đạo. Từ khi ra đời đến nay, tổ chức MTTQVN đã không ngừng lớn mạnh, trở thành một trong những nhân tố làm nên thắng lợi của cách mạng Việt Nam.
MTTQVN đã trải qua nhiều thời kỳ với nhiều tên gọi khác nhau cho phù hợp với nhiệm vụ của từng giai đoạn cách mạng, nhưng mục tiêu của MTTQVN là nơi tập hợp các giai tầng trong xã hội đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất Tổ quốc, xây dựng khối đại đoàn toàn dân tộc phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc là không thay đổi. Quá trình hình thành và phát triển của MTTQVN qua các giai đoạn lịch sử được tổng hợp như sau: - Ngày 18/11/1930, Mặt trận Thống nhất phản đế Đông Dương - Hội Phản đế đồng minh hình thức đầu tiên của Mặt trận Dân tộc thống nhất được thành lập trên cơ sở quan điểm của Đảng: giai cấp vô sản lãnh đạo cuộc cách mạng tư sản dân quyền ở Đông Dương mà không tổ chức được toàn dân lại thành một lực lượng thật rộng, thật kín thì cuộc cách mạng đó cũng khó thành công. Về nguyên tắc, Hội Phản đế đảm bảo tính chất công nông song đồng thời phải mở rộng tới các thành phần trong dân tộc để Mặt trận thật sự là nơi tập hợp sức mạnh của toàn dân. Vì vậy, Hội Phản đế Đồng minh“hấp thụ các tầng lớp trí thức dân tộc, tư sản dân tộc, họ ở tầng lớp trên hay ở tầng lớp giữa cũng vậy và cho tới cả những người địa chủ, có đầu ốc oán ghét đế quốc Pháp, mong muốn độc lập quốc gia, để đưa tất cả tầng lớp và cá nhân đó vào trong hàng ngũ chống đế quốc Pháp.
- Tháng 3 năm 1935, Đại hội Đảng Cộng sản Đông dương lần thứ nhất đã thông qua nghị quyết về công tác Phản đế liên minh, quyết định thành lập và thông qua điều lệ của tổ chức nhằm tập hợp tất cả các lực lượng phản đế toàn Đông dương. Điều lệ của Phản đế liên minh rộng và linh hoạt hơn Điều lệ Hội phản đế đồng minh: Bất kỳ người hoặc đoàn thể nào thừa nhận nghị quyết, Điều lệ và thường xuyên nộp hội phí thì được thừa nhận là hội viên. - Ngày 30/10/1936, chủ trương thành lập Mặt trận thống nhất nhân dân Phản đế được phổ biến qua tài liệu chung quanh vấn đề chính sách mới để khắc phục những sai lầm trong nhận thức và hành động trong quá trình thực hiện liên minh thời kỳ trước. Việc tập hợp lực lượng trong Mặt trận được công khai qua bức thư ngỏ của Đảng Cộng sản Đông Dương gửi cho Chính phủ Mặt trận nhân dân Pháp bày tỏ sự đồng minh với nhân dân Pháp, kêu gọi ban hành một số quyền tự do dân chủ cơ bản cho nhân dân Đông Dương và hô hào "tất cả các đảng phái chính trị, tất cả các tầng lớp nhân dân Đông Dương tham gia Mặt trận nhân dân Đông Dương".
Tháng 6 năm 1938, Đảng ta với chủ trương việc lập Mặt trân Dân chủ Đông Dương phải rộng rãi, bao hàm được đại đa số nhân dân (cả người bản xứ và người Pháp), chung quanh một bản chương trình hành động tối thiểu. Đảng ta chủ trương cần cổ động các đảng phái công khai (như Đảng Lập hiến, Đảng Dân chủ), các đoàn thể công khai (Lương Hữu, Ái Hữu, Liên đoàn báo giới) của dân chúng, v.v… để đoàn kết những lực lượng dân chủ lại, quy tụ vì mục tiêu, nhiệm vụ của cách mạng giải phóng dân tộc. Đảng đề ra chủ trương: không chủ trương đánh đổ một giai cấp hay một đảng phái nào của người bản xứ, có như vậy mới có thể đoàn kết được lực lượng rộng rãi. Trong Mặt trận, Đảng phải tôn trọng và khuyến khích mọi sáng kiến của các hạn đồng minh.
Đảng Cộng sản chủ trương: hoạt động của Mặt trận không nên bó hẹp trong quần chúng công nông mà phải tranh thủ cả những phần tử tiến bộ ở Đông Dương như người nước ngoài, giai cấp tư sản dân tộc, v.v… giữ họ trong Mặt trận và thúc đẩy họ hành động, khi cần thiết cô lập họ về chính trị nhưng tránh để họ đứng ngoài Mặt trận; Đảng phải tỏ ra là bộ phận trung thành nhất, hoạt động nhất và chân thực nhất. Địa vị lãnh đạo của Đảng giành được phải bằng chính năng lực của Đảng thể hiện trong thực tế đấu tranh hàng ngày. Tuy nhiên, trên thực tế hoạt động, việc tập hợp lực lượng mới chủ yếu ở công nhân, nông dân mà thiếu chiến sỹ hoạt động ở trong giới trí thức. Chính vì vậy, hiệu quả hoạt động của Mặt trận dân chủ trong việc góp phấn đấu tranh chống Thực dân Pháp có phần còn hạn chế.
Đó chính là lý do để Đảng ta tiếp tục nghiên cứu đổi tên cũng như sửa đổi tiêu chí hoạt động của tổ chức này. - Tháng 11/1939, để tập trung lực lượng đánh đổ đế quốc, Đảng chủ trương tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất, tạm thay khẩu hiệu lập chính quyền Xô Viết công nông binh bằng khẩu hiệu chính quyền cộng hoà dân chủ và Mặt trận Thống nhất Dân tộc phản đế Đông Dương ra đời nhằm tập trung hết thảy những lực lượng phản đế ở Đông Dương, không phân biệt đảng phái, giai cấp dân tộc, tôn giáo. Dùng hết thảy những lực lượng ấy, dù nhỏ, dù yếu, liên hiệp các lực lượng ấy lại thành Mặt trận Dân tộc thống nhất phản đế, cùng Đảng tổ chức nhân dân tiến lên võ trang bạo động. Mặt trận phải trực tiếp võ trang cho dân chúng, cùng Đảng tổ chức nhân dân tiến hành cách mạng, trực tiếp tham gia điều khiển bạo động.
Như vậy, từ sự chỉ đạo chuyển hướng chiến lược về hai nhiệm vụ cơ bản của cách mạng, Đảng đã quyết định chuyển hướng về nội dung và hình thức tổ chức, hoạt động của Mặt trận. Cũng chính trong thời gian này, Đảng đã ra nghị quyết nêu rõ: Giai cấp công nhân vô sản phải lãnh đạo được cách mạng và lãnh đạo được Mặt trận, nếu giai cấp vô sản không cầm được quyền lãnh đạo trong Mặt trận, lực lượng chỉ huy của Mặt trận yếu thì cách mạng dân quyền tư sản không thể giải quyết được nhiệm vụ theo phương pháp vô sản. - Đến tháng 5/1941, tại Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương, Đảng xác định nhiệm vụ cách mạng hiện tại là cuộc cách mạng dân tộc giải phóng. Phải đặt quyền lợi của dân tộc lên trên hết, do vậy phải liên hiệp sức mạnh của toàn dân, thống nhất lực lượng.
Cần thiết phải có sự thay đổi hình thức tổ chức và phương thức vận động của Mặt trận cho có tính dân tộc hơn, dễ hiệu triệu hơn và nhất là có thể thực hiện được trong tình thế hiện tại. Trên cơ sở đó, Việt Nam Độc lập Đồng Minh Hội, gọi tắt là Việt Minh ra đời. Mặt trận Việt Minh đã làm tốt vai trò, sứ mệnh lịch sử của mình bằng việc tập hợp toàn dân đấu tranh giành thắng lợi của cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945, lập nên nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, nhà nước công nông đầu tiên ở khu vực Đông Nam Á thời bấy giờ. - Trước tình hình có những nhân sỹ, trí thức, quan lại cũ, những nhà điền chủ và thương gia trước đây chưa có quan hệ nào với Việt Minh nay muốn tham gia một tổ chức thích hợp nào đó để góp phẩn vào sự nghiệp củng cố nền độc lập nước nhà, để đáp ứng yêu cầu này, ngày 29/5/1946, Hội Liên hiệp Quốc dân Việt Nam được thành lập (gọi tắt là Hội Liên Việt).
Đây là một bước phát triển mới của Mặt trận dân tộc thống nhất. Mặt trận Việt Minh vẫn là một thành viên của tổ chức này. Có thể nói rằng: Hội Liên Việt là mặt trận của toàn thể quốc dân Việt Nam. Như vậy, về tính chất, cùng là mặt trận thống nhất, song Mặt trận Việt Minh mang màu sắc giai cấp hơn so với Hội Liên Việt.
- Từ sau khi Đảng Cộng sản ra hoạt động công khai nắm chính quyền, có những quan điểm, nhận thức còn mơ hồ về vị trí vai trò của Mặt trận. Để khẳng định một lần nữa về quan điểm chủ đạo của Đảng ta về đại đoàn kết toàn dân tộc và phù hợp với yêu cầu của giai đoạn cách mạng mới, cần thiết phải thống nhất hai tổ chức Mặt trận Việt Minh và Hội Liên Việt thành một Mặt trận thống nhất duy nhất. Trên cơ sở đó, ngày 03/3/195, hội nghị thống nhất Hội Liên Việt và Mặt trận Việt Minh thành Mặt trận Liên Việt được tổ chức tại Tuyên Quang. Cũng chính tại Hội nghị này, Đảng ta đã chỉ rõ tính chất vai trò của Mặt trận nước ta khác với các nước khác, đó là Mặt trận dân tộc chứ không phái là Mặt trận nhân dân.
Chính sách liên minh giai cấp dựa trên nguyên tắc đoàn kết thành thật, nhân nhượng lẫn nhau, giúp đỡ lẫn nhau. Chính sách liên minh này không có gì mâu thuẫn với thuyết đấu tranh giai cấp, bản thân cuộc kháng chiến là hình thức cao của đấu tranh giai cấp. Do vậy, Mặt trận Liên Việt chủ trương đoàn kết tất cả các đảng phái, các đoàn thể và mọi cá nhân yêu nước, không phân biệt già trẻ, gái trai, giai cấp, chủng tộc, tôn giáo, xu hướng chính trị, để cùng nhau kháng chiến, kiến quốc, xây dựng chế độ dân chủ nhân dân. - Tháng 9/1955, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ra đời với một cương lĩnh hết sức chặt chẽ và thiết thực, xác định hai nhiệm vụ rõ ràng: Một là ra sức củng cố Miền Bắc về mọi mặt.