CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM VỚI CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ 1. Tổ chức Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và tổ chức chính quyền cấp xã Tổ chức Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã ra Chỉ thị thành lập Hội Phản đế Đồng minh (18/11/1930), đây là hình thức tổ chức tiền thân của Mặt trận dân tộc thống nhất để tập hợp mọi lực lượng trong nhân dân làm cách mạng giải phóng dân tộc. Từ đó đến nay, trong lịch sử cách mạng Việt Nam không bao giờ vắng bóng tổ chức Mặt trận. Trải qua các thời kỳ cách mạng, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (một hình thức tổ chức của Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam) lớn mạnh không ngừng, đã đóng góp rất lớn trở thành một trong các nhân tố rất quan trọng quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam cho đến nay.
Về vị trí, theo Cương lĩnh của Đảng năm 1991: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân. Đảng ta vừa là đoàn thể thành viên, vừa là hạt nhân lãnh đạo Mặt trận. Năm 1999, Nhà nước thể chế hoá Nghị quyết Đại hội Đảng VIII và qua tổng kết 10 năm đổi mới đã ban hành Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, trong đó xác định: “ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là bộ phận của hệ thống chính trị của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo". Khái niệm hệ thống chính trị được Đảng sử dụng từ hội nghị TW6 (khoá VI), hệ thống đó bao gồm Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị-xã hội.
Như vậy, từ đó đến nay, vị trí của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã được xác định rõ trong xã hội và hệ thống chính trị. Luận văn sẽ chủ yếu, tập trung đi sâu vào mối quan hệ với Nhà nước để thấy được vai trò tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Dưới sự lãnh đạo của Đảng ta, Nhà nước và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đều là bộ phận quan trọng của hệ thống chính trị. Tuy Mặt trận và Nhà nước có sự khác 6 nhau về nhiệm vụ, chức năng và phương thức hoạt động; song chúng đều là công cụ để nhân dân thực thi và phát huy quyền làm chủ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN.
Quan hệ giữa Nhà nước với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là quan hệ phối hợp để thực thi quyền hạn và nhiệm vụ theo luật định. Sự phối hợp tất yếu này là xuất phát từ nhu cầu tự thân của Nhà nước, của Mặt trận. Vì lẽ, chính sách pháp luật là cơ sở chung để củng cố và tăng cường đoàn kết. Nhà nước có vai trò rất quan trọng trong việc mở rộng và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật và công tác quản lý, tạo điều kiện để nhân dân được làm những việc mà pháp luật không cấm.
Nhà nước ban hành khung cơ chế để Mặt trận và 5 tổ chức CT-XH còn lại thực hiện tốt chức năng, vai trò giám sát và phản biện XH. Mặt trận phải chú trọng xây dựng Nhà nước và bảo vệ, giám sát Nhà nước. Phối hợp với Nhà nước thì Mặt trận mới có điều kiện và gia tăng khả năng thực hiện các nhiệm vụ của mình. Nhà nước quản lý điều hành XH bằng luật pháp, nhân dân là người trực tiếp thực hiện pháp luật, chính sách của Nhà nước.
Do đó, Nhà nước cần tôn trọng và có cơ chế thuận lợi để Mặt trận cùng các đoàn thể động viên người dân phát huy quyền làm chủ và sức mạnh có tổ chức của nhân dân tham gia xây dựng, quản lý, bảo vệ và giám sát Nhà nước. Trong quá trình ban hành các văn bản về quản lý và điều hành, cơ quan Nhà nước các cấp cần lắng nghe những kiến nghị của Mặt trận và các đoàn thể. Nhà nước căn cứ quy chế tổ chức, cơ chế hoạt động nhằm giải quyết đúng đắn về mối quan hệ giữa Nhà nước và Mặt trận. Nhà nước cần thể chế hoá, luật hóa trách nhiệm và quyền hạn của Mặt trận trong tham gia quản lý KT-XH.
Nhà nước cùng với Mặt trận phải chú trọng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của người dân, vận động mọi lực lượng trong nhân dân đẩy mạnh phong trào cách mạng để thực hiện các chương trình KT-XH thắng lợi. Mặt trận giới thiệu những người có đủ tiêu chuẩn và điều kiện để nhân dân bầu vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp; tham gia xây dựng pháp luật, giám sát hoạt động của cơ quan Nhà nước, đại biểu dân cử, cán bộ, công chức Nhà nước. Cải cách bộ máy Nhà nước trong giai đoạn hiện nay còn bao hàm một nội dung quan trọng là tăng cường mối quan hệ mật 7 thiết giữa Nhà nước với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể nhân dân. Để Mặt trận làm tròn trách nhiệm là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, cùng với nhà nước chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân, do đó đòi hỏi sự phối hợp giữa Mặt trận với Nhà nước ngày một chặt chẽ hơn.
Trong bài phát biểu với Mặt trận, đồng chí Trường Chinh đã từng nói:. Chúng ta không nên tưởng rằng có bộ máy nhà nước trong tay, có pháp luật thì chỉ cần ra lệnh cho quần chúng tuân theo là mọi việc xong suôi cả. Tưởng như thế là quan liêu, mệnh lệnh. Bất cứ chủ trương, chính sách gì, kể cả Hiến pháp và pháp luật, quy chế và điều lệ, nếu không đem tuyên truyền phổ biến trong quần chúng nhân dân, kiên nhẫn giải thích, thuyết phục và giáo dục cho quần chúng hiểu và tự nguyện thi hành thì những cái đó cũng chỉ nằm trên giấy tờ.
Chính quyền cách mạng của nhân dân có thể dùng hai biện pháp: thuyết phục và bắt buộc, kết hợp thuyết phục với bắt buộc, dựa trên cơ sở thuyết phục mà thực hiện bắt buộc, nói chung thuyết phục vẫn là chính. Làm thế nào để thuyết phục quần chúng thi hành những chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước. Đảng đã nắm chính quyền thì những chủ trương, chính sách quan hệ đến quyền lợi thiết thân của toàn dân cần được biến thành quy định của Nhà nước để toàn dân thi hành. Đảng lãnh đạo chính quyền, chứ không bao biện thay chính quyền.
Song để tránh quan liêu, mệnh lệnh, chính quyền cần dựa vào Mặt trận và các thành viên của Mặt trận; sử dụng những tổ chức đó vào việc tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục quần chúng để quần chúng thấu suốt và hăng hái thi hành các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước. Trở lại mối quan hệ giữa Mặt trận với Nhà nước, Điều 9 Hiến pháp đã thể chế hoá quan điểm của Đảng về vị trí, vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam như sau: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, hiệp thương dân chủ tự nguyện của các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các tầng lớp giai cấp xã hội, các dân tộc, tôn giáo và người Việt Nam định cư ở các nước. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng với các tổ chức thành viên của mình là cơ 8 sở chính trị quan trọng của chính quyền nhà nước. Mặt trận phát huy truyền thống đoàn kết toàn dân, tăng cường sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong nhân dân, tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân, cùng Nhà nước chăm lo và bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân, động viên nhân dân thực hiện quyền làm chủ, nghiêm chỉnh thi hành Hiến pháp và pháp luật, giám sát hoạt động của cơ quan Nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ, viên chức Nhà nước.
Nhà nước tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên hoạt động có hiệu quả. Ở Điều 87 của Hiến pháp quy định về quyền trình dự Luật đến Quốc hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của mình. Tại Điều 111 quy định: Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và người đứng đầu các đoàn thể nhân dân được mời tham dự tại các phiên họp Chính phủ khi bàn các vấn đề nghị sự liên quan. Tại Điều 112 quy định nhiệm vụ và quyền hạn của Chính phủ có nhiệm vụ: “Phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân trong khi thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, tạo điều kiện để các tổ chức đó hoạt động có hiệu quả” và tại Điều 125 quy định: Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và người đứng đầu các đoàn thể nhân dân ở địa phương được mời tham dự hội nghị UBND cùng cấp khi bàn các vấn đề có liên quan.
HĐND, UBND thực hiện chế độ thông báo toàn diện tình hình địa phương cho Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, lắng nghe các ý kiến góp ý, kiến nghị của các tổ chức này về xây dựng chính quyền và phát triển KT-XH ở địa phương; phối hợp chặt chẽ với các đoàn thể nhân dân và Mặt trận Tổ quốc để động viên nhân dân cùng nhà nước thực thi các nhiệm vụ KT-XH, quốc phòng an ninh ở địa phương. Như vậy, Hiến pháp có 5 điều quy định những nội dung cơ bản về quyền và trách nhiệm của Mặt trận; về trách nhiệm của Nhà nước, của Quốc hội, Chính phủ, Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân đối với Mặt trận và mối quan hệ giữa Mặt trận với Nhà nước. Đây là những quy định có tính Hiến định quy định mối quan hệ giữa Mặt trận với Nhà nước. Sở dĩ cơ quan nhà nước phải phối hợp với Mặt trận vì bản 9 chất Nhà nước ta là Nhà nước của dân, do dân, vì dân, mọi quyền lực thuộc về nhân dân, Nhà nước có chức năng quản lý, Mặt trận Tổ quốc là tổ chức liên minh chính trị, là nhân dân có tổ chức do nhân dân lập ra.
Để thực hiện tốt chức năng quản lý, Nhà nước phải dựa vào Mặt trận, phối hợp với Mặt trận. Quan hệ phối hợp ở đây được hiểu là sự bình đẳng, tạo điều kiện hỗ trợ lẫn nhau trên cơ sở các quy định thống nhất giữa hai bên để thực hiện một chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước hoặc Chương trình hành động của Mặt trận Tổ quốc.