CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ KẾT HÔN VỚI NGƯỜI NƯỚC NGOÀI 1. Kết hôn Theo Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học thì kết hôn là việc “nam và nữ chính thức lấy nhau làm vợ, chồng theo quy định của pháp luật” [61, tr. Theo quy định tại khoản 2, Điều 8 LHNGĐ năm 2000: “Kết hôn là việc nam, nữ xác lập quan hệ vợ chồng (lấy nhau thành vợ, thành chồng) theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn”[6, tr. Dưới góc độ pháp lý, kết hôn trước hết là quyền con người và quyền được pháp luật bảo vệ trên cơ sở các quy định của pháp luật.
Để bảo vệ quyền kết hôn của con người, pháp luật về HNGĐ của hầu hết các nước trên thế giới đều ghi nhận quyền được kết hôn của mọi người khi có đầy đủ các điều kiện mà pháp luật quy định, đồng thời việc tiến hành kết hôn phải theo đúng các quy định của pháp luật. Kết hôn là quyền dân sự của cá nhân được quy định trong bộ Luật Dân sự năm 2005 (Điều 24, Điều 39) [2, tr.11], theo đó nam và nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật về HNGĐ có quyền tự do kết hôn, không bên nào được ép buộc, lừa dối bên nào, không ai được cản trở hôn nhân tự nguyện tiến bộ hoặc cưỡng ép kết hôn. Muốn kết hôn, hai bên nam nữ phải thể hiện ý chí của mình là mong muốn được xác lập quan hệ vợ chồng. Sự bày tỏ ý chí thể hiện trong việc xin đăng ký kết hôn tại cơ quan đăng ký có thẩm quyền, trong đó thể hiện rõ ràng họ hoàn toàn mong muốn được kết hôn với nhau.
Cơ quan có thẩm quyền đăng ký kết hôn xem xét yêu cầu đăng ký kết hôn của nam nữ, nếu các bên chủ thể có đủ điều kiện kết hôn thì tiến hành đăng ký việc kết hôn, ghi vào sổ kết hôn và cấp Giấy chứng nhận kết hôn cho nam nữ. Giấy chứng nhận kết hôn là cơ sở pháp lý ghi nhận rằng hai bên nam nữ đã phát sinh quyền và nghĩa vụ vợ chồng, đồng thời là cơ sở pháp lý để xác định chủ thể các quan hệ giữa vợ và chồng và là cơ sở để xác định thời điểm phát sinh các quan hệ đó. Kết hôn là cơ sở, tiền đề cho việc tạo ra gia đình- tế bào của xã hội. Pháp luật điều chỉnh kết hôn là tổng thể các quy phạm điều chỉnh việc liên kết giữa nam và nữ và nhằm xác lập nên quan hệ vợ chồng.
Trong bất kỳ xã hội có giai cấp 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nào, pháp luật cũng luôn là công cụ hữu hiệu điều chỉnh quan hệ kết hôn. Mặc dù có sự khác nhau trong nội dung của các quy phạm pháp luật của các nước về vấn đề kết hôn nhưng nhìn chung pháp luật về kết hôn tập trung vào hai vấn đề pháp lý cơ bản: điều kiện kết hôn và nghi thức kết hôn Điều kiện kết hôn: Theo Từ điển giải thích thuật ngữ Luật học thì “điều kiện kết hôn” là điều kiện để Nhà nước công nhận việc kết hôn của các bên nam nữ [81]. Như vậy, điều kiện kết hôn được hiểu là những đòi hỏi của pháp luật đặt ra đối với các chủ thể khi kết hôn và chỉ khi các chủ thể đáp ứng được đầy đủ các điều kiện đó thì việc kết hôn mới hợp pháp và được pháp luật bảo vệ. Trong hệ thống pháp luật của hầu hết các nước trên thế giới, việc xác định tính hợp pháp của các điều kiện kết hôn được đề cập tới các vấn đề: ý chí, tuổi tác, sức khỏe, tình trạng hôn nhân, quan hệ thân thuộc….
Nghi thức kết hôn: Nghi thức kết hôn là trình tự tiến hành chính thức nhằm thiết lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật. Tùy thuộc vào nền kinh tế, văn hóa và các điều kiện xã hội mà pháp luật các nước khác nhau quy định nghi thức kết hôn khác nhau: Nghi thức kết hôn tôn giáo, nghi thức kết hôn dân sự….Nghi thức kết hôn tôn giáo là hình thức kết hôn được tiến hành trước những người đại diện cho tôn giáo theo thủ tục và quy định của tôn giáo đó. Nghi thức kết hôn dân sự là nghi thức được tiến hành trước cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước. Khi các bên có đủ điều kiện kết hôn thì cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước sẽ cấp giấy đăng ký kết hôn cho các bên và ghi vào sổ đăng ký kết hôn.
Nếu các bên chủ thể khi đăng ký kết hôn không đáp ứng các yêu cầu về điều kiện kết hôn và nghi thức kết hôn thì không được pháp luật công nhận và bảo vệ. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Kết hôn có yếu tố nước ngoài 1. Quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài Theo quy định tại Điều 758 Bộ Luật Dân sự năm 2005 “Quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài là quan hệ dân sự có ít nhất một trong các bên tham gia là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc là các quan hệ dân sự giữa các bên tham gia là cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài hoặc là các quan hệ dân sự giữa các bên tham gia là công dân, tổ chức Việt Nam nhưng căn cứ để xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó theo pháp luật nước ngoài, phát sinh tại nước ngoài hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài” [2, tr.
Việc xác định đó là quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài là dựa vào yếu tố quốc tịch, sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi chấm dứt quan hệ hôn nhân. Như vậy, xét về mặt bản chất, quan hệ HNGĐ có yếu tố nước ngoài cũng là loại quan hệ dân sự, song, nó khác cơ bản với các quan hệ dân sự thông thường là luôn có yếu tố nước ngoài và khi phát sinh quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài thường dẫn đến hiện tượng xung đột pháp luật. Có thể thấy quan hệ HNGĐ có yếu tố nước ngoài được quy định tại khoản 14 Điều 8 Luật HNGĐ năm 2000 là sự vận dụng Điều 758 Bộ LDS năm 2005 (Điều 826 của Bộ LDS năm 1996) và có thể hiểu: quan hệ HNGĐ có yếu tố nước ngoài là quan hệ HNGĐ phát sinh giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài hoặc giữa người nước ngoài với nhau thường trú tại Việt Nam, hoặc giữa công dân Việt Nam với nhau mà căn cứ xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó phát sinh ở nước ngoài, hoặc tài sản liên quan đến quan hệ đó ở nước ngoài. Theo đó, quan hệ HNGĐ có yếu tố nước ngoài bao gồm các quan hệ: - Quan hệ kết hôn, quan hệ giữa vợ và chồng có yếu tố nước ngoài.
- Quan hệ giữa cha, mẹ con có yếu tố nước ngoài. - Quan hệ giám hộ có yếu tố nước ngoài. - Quan hệ cấp dưỡng có yếu tố nước ngoài. Yếu tố nước ngoài trong quan hệ hôn nhân và gia đình được hiểu: Các bên chủ thể trong quan hệ hôn nhân có quốc tịch khác nhau (khoản 14a Điều 8 LHNGĐ năm 2000).
Các bên chủ thể cùng quốc tịch nhưng sự kiện pháp lý liên quan tới 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quan hệ này xảy ra ở nước ngoài (khoản b Điều 8), Khoản 14c Điều 8. Tài sản liên quan đến quan hệ hôn nhân ở nước ngoài. Như vậy quan hệ HNGĐ có yếu tố nước ngoài mang một phạm vi rộng với nhiều nội dung, trong đó kết hôn có yếu tố nước ngoài là một nội dung trong quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài. Kết hôn có yếu tố nước ngoài Trong bối cảnh hiện hay, khi biên giới, chủ quyền quốc gia về mặt pháp lý ngày càng bị thu hẹp do xu hướng hội nhập, toàn cầu hóa phát triển mạnh mẽ thì các quan hệ về dân sự nói chung, kết hôn có yếu tố nước ngoài nói riêng cũng diễn ra ngày càng mạnh mẽ.
Điều này đặt ra nhu cầu cần thiết phải điều chỉnh bằng pháp luật các quan hệ phát sinh trong lĩnh vực kết hôn có yếu tố nước ngoài. Theo quy định của Pháp luật Việt Nam, Điều 103 LHNGĐ năm 2000 về kết hôn có yếu tố nước ngoài: “Trong việc kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, mỗi bên phải tuân theo pháp luật của nước mình về điều kiện kết hôn, nếu việc kết hôn được tiến hành tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam phải tuân theo các quy định của LHNGĐ về điều kiện kết hôn”. *Thứ nhất, chủ thể trong quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài. Công dân Việt Nam khi tham gia vào quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài trước hết phải có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi theo pháp luật Việt Nam và năng lực này được xác định trên cơ sở pháp luật dân sự Việt Nam.
Năng lực pháp luật và năng lực hành vi là những thuộc tính pháp lý, là đặc trưng không thể thiếu của chủ thể pháp luật. Trong quan hệ kết hôn có yếu tố nước ngoài, ngoài chủ thể là công dân Việt Nam, chủ thể tham gia quan hệ này có ít nhất một bên là người nước ngoài. Khái niệm người nước ngoài đã được tiếp cận khá sớm trong khoa học pháp lý ở nước ta. Trong Tuyên bố về chính sách của Chính phủ liên hiệp lâm thời ngày 1/1/1946, Hồ Chủ tịch đã nêu rõ “Làm cho các nước công nhận nền độc lập của Việt Nam, thân thiện với kiều dân ngoại quốc, nhất là Hoa Kiều”.
Trong quyết định số 122/CP ngày 25/4/1977 của Hội đồng Chính phủ về chính sách đối với người nước ngoài cư trú, làm ăn sinh sống tại Việt Nam Điều 1 quy định: “Người nước ngoài (gọi tắt là ngoại kiều) là những người cư trú và làm ăn sinh sống tại Việt Nam, 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com có quốc tịch nước khác hoặc không có quốc tịch”. Khái niệm người nước ngoài cũng đã được quy định trong các văn bản pháp luật tiếp theo, Điều 5 Luật Quốc tịch Việt Nam 28/6/1988, khoản 1 Điều 1 Pháp lệnh HNGĐ giữa công dân Việt Nam và người nước ngoài [26]. Tại Điều 9, Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10/7/2002 về quan hệ HNGĐ có yếu tố nước ngoài quy định “Người nước ngoài là người không có quốc tịch Việt Nam, bao gồm công dân nước ngoài và người không quốc tịch” [7, tr.