phần Mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Nội dung chính của luận văn gồm 3 chương, 6 tiết. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA PHẬT GIÁO ĐỐI VỚI VIỆC BẢO VỆ MÔI TRƢỜNG 1.1 Một số khái niệm căn bản Trước khi đi tìm hi u về quan niệm của hật giáo đối với việc bảo vệ môi trường, chúng ta tìm hi u một số khái niệm căn bản * Môi trường Chương trình môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP) năm 1980 đã đưa ra khái niệm về môi trường: “môi trường là tập hợp các yếu tố vật lý, hóa học, sinh học, kinh tế- xã hội bao quanh và tác động tới đời sống và sự phát triển của một cá thể”. Trong tuyên ngôn của UNESCO (1981) môi trường được định nghĩa như sau “Môi trường của con người bao gồm toàn bộ các hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra xung quanh mình, trong đó con người sinh sống và bằng lao động của mình đã khai thác các tài nguyên thiên nhiên hoặc nhân tạo nhằm thoả mãn các nhu cầu của con người".
Bách khoa toàn thư về môi trường (1994) định nghĩa: “môi trường là tổng thể các thành tố sinh thái tự nhiên, xã hội, nhân văn và các điều kiện tác động trực tiếp hay gián tiếp lên phát triển, lên đời sống và hoạt động của con người trong thời gian bất kỳ”. Bách khoa toàn thư Philip- Philip Encyclopedia 2008, trang 304 có ghi: “Môi trường có nghĩa là tổ hợp các yếu tố vật chất và sinh học xung quanh một sinh vật. Môi trường bao gồm các yếu tố vô sinh (phi sinh vật) như nhiệt độ, đất, không khí và bức xạ và hữu sinh (sinh vật) như thực vật, vi sinh vật và động vật.” Dưới góc nhìn của một nhà khoa học môi trường nổi tiếng tại Mỹ G.Tyler Miler trong tác phẩm khoa học và môi trường cho rằng, “môi trường là tất cả các hoàn cảnh bên ngoài tác động lên một cơ thể sinh vật hoặc một cơ thể nhất định đang sống; là mọi vật bên ngoài một cơ thể nhất định” 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo tác giả S.Kalesnik trong tác phẩm các quy luật địa lí chung của trái đất định nghĩa "Môi trường (được định nghĩa với môi trường địa lí) chỉ là một bộ phận của trái đất bao quanh con người, mà ở một thời điểm nhất định xã hội loài người có quan hệ tương hỗ trực tiếp với nó, nghĩa là môi trường có quan hệ một cách gần gũi nhất với đời sống và hoạt động sản xuất của con người" Trong cuốn sách “ môi trường và tài nguyên Việt Nam” đã khái lược như sau "Môi trường là một nơi chốn trong số các nơi chốn, nhưng có thể là một nơi chốn đáng chú ý, thể hiện các màu sắc xã hội của một thời kì hay một xã hội". [xem 36] Theo khoản 1 điều 3, luật bảo vệ môi trường do Quốc hội Việt Nam ban hành vào năm 2014: “ Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên.” [xem 47] Theo Tác giả Võ Quang Hiền: “môi trường bao gồm môi trường tự nhiên và môi trường xã hội có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến cuộc sống con người.
Nó có thể được tạo lập xung quanh con người, chi phối đời sống con người, đảm bảo sự tồn tại và phát triển của con người” [ 66, Tr 191] Qua đó có thể thấy được rằng, có nhiều định nghĩa khác nhau về môi trường. Tuy nhiên, dù đứng dưới góc độ nào thì môi trường cũng do nhiều yếu tố hợp thành, trong đó có thể phân thành hai nhóm chính: một là các yếu tố sinh vật và phi sinh vật, hệ sinh thái hình nên môi trường tự nhiên, tiếp theo đó chính là các yếu tố chính trị, kinh tế, văn hóa và mối quan hệ giữa con người với cá nhân, cộng đồng. hình thành nên môi trường xã hội. Trong đó, con người nằm ở vị trí trung tâm, có tác động tích cực hay tiêu cực đến môi trường cũng như bị chi phối và chịu sự tác động của môi trường tự nhiên và môi trường xã hội.
Như vậy, về nội dung của thuật ngữ môi trường không thể hiểu hạn hẹp rằng đó chỉ là môi trường đất đai, nước, không khí hay hệ sinh thái mà thuật ngữ này bao hàm cả trên bình diện xã hội. Môi trường là không gian sống, tập hợp những yếu tố và những mối quan hệ ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống hàng ngày của con người, tồn tại và có sự tác động to lớn đối với hoạt động của con người trong mọi giai đoạn 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com phát triển của xã hội, bao gồm hai thành tố căn bản đó là môi trường tự nhiên và môi trường xã hội, hai yếu tố này tồn tại song song và có ảnh hưởng qua lại, tác động lẫn nhau. * Môi trường tự nhiên Môi trường tự nhiên bao gồm các nhân tố thiên nhiên như vật lý, hoá học, sinh học, tồn tại ngoài ý muốn của con người, nhưng cũng ít nhiều chịu tác động của con người. Đó là ánh sáng mặt trời, núi sông, biển cả, không khí, động, thực vật, đất, nước.
Môi trường tự nhiên cho ta không khí để thở, đất để xây dựng nhà cửa, trồng cấy, chăn nuôi, cung cấp cho con người các loại tài nguyên khoáng sản cần cho sản xuất, tiêu thụ và là nơi chứa đựng, đồng hoá các chất thải, cung cấp cho ta cảnh đẹp để giải trí, làm cho cuộc sống con người thêm phong phú. [xem 66] * Môi trường xã hội Môi trường xã hội là tổng thể các quan hệ giữa con người với con người, định hướng hoạt động của con người theo một khuôn khổ nhất định, tạo nên sức mạnh tập thể thuận lợi cho sự phát triển, làm cho con người khác với sinh vật khác Môi trường xã hội là môi trường mà con người là nhân tố trung tâm, tham gia và chi phối môi trường. Môi trường xã hội bao gồm: chính trị, kinh tế, văn hoá, giáo dục, thể thao, lịch sử. xoay quanh con người và con người lấy đó làm nguồn sống, làm mục tiêu cho mình [44, Tr 255].
* Bảo vệ môi trường Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp; phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường, ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý và “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật”.[xem 47] * ai trò theo từ điển Tiếng Việt, vai trò là tác dụng, chức năng của ai hoặc cái gì trong sự hoạt động, sự phát triển chung [60, Tr 1400] 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com * ai trò của Phật iáo đối với việc bảo vệ môi trường: Là vai trò của Phật giáo trong việc chung tay xây dựng môi trường tự nhiên sạch đẹp, môi trường xã hội văn minh được thể hiện qua những hoạt động thiết thực tại một địa bàn nhất định. Cơ sở lí luận về vai trò của Phật giáo đối với vấn đề bảo vệ môi trƣờng 1. Cơ sở lí luận về vai trò của Phật giáo đối với vấn đề bảo vệ môi trường tự nhiên ạo Phật góp phần hình thành nhận thức về thế giới quan, mối liên hệ giữa con người và thế giới tự nhiên thông qua thuyết duyên khởi Thuyết duyên khởi hay còn có nhiều tên gọi khác nhau như nhân duyên sinh, hay còn gọi là thập nhị nhân duyên. là một trong những triết lí cơ bản và nền tảng của giáo dục Phật Giáo, hình thành và phát triển thế giới quan của Đạo Phật.
Thuyết này chỉ rõ mọi sự vật, sự việc, hiện tượng hình thành nên thế giới đều nằm trong mối liên hệ mật thiết với nhau, chúng là nguyên nhân của một yếu tố này và là kết quả của một yếu tố khác, tạo thành một chuỗi gồm 12 yếu tố, không có thành phần nào đứng lẻ loi một mình và tác động một cách riêng lẽ, độc lập mà không phụ thuộc vào các thành phần khác. Mười hai thành phần của thập nhị nhân duyên được sắp xếp theo thứ tự nhất định. Trong Tương Ưng bộ Kinh khái quát “như vậy này các Tỷ-kheo, vô minh duyên hành; hành duyên thức; thức duyên danh sắc; danh sắc duyên sáu xứ; sáu xứ duyên xúc; xúc duyên thọ; thọ duyên ái; ái duyên thủ; thủ duyên hữu; hữu duyên sanh; sanh duyên già, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não được khởi lên. Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi.” [17,Tr 244], đây gọi là duyên khởi.
Các yếu tố như vô minh, hành, thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thụ, ái, thủ, hữu, sinh, lão tử được gọi là 12 chi phần tạo nên vòng tròn “ thập nhị nhân duyên”. Mỗi chi phần được xác định như một mắt xích trong sợi dây liên kết ràng buộc lẫn nhau giữa các thành phần, chúng tuân theo quy luật nhân quả, không tự xuất hiện, cũng không tự mất đi. 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong tác phẩm “con người với giáo lí mười hai nhân duyên”, từ việc nghiên cứu chuyên sâu và cặn kẽ về giáo lí này, tác giả Phạm Đình Nhân đã từng đề cập đến ba hình thức quán chiếu “12 nhân duyên” theo chiều thuận mà theo chúng tôi chính những phép quán chiếu này giúp chúng ta có thể hình thành nên thế giới quan của Phật Giáo từ đó đưa đến những liên hệ với việc bảo vệ môi trường. Trong ba phép quán chiếu theo chiều thuận, chúng tôi đặc biệt quan tâm đến phép quan sát trạng thái sinh khởi của mười hai nhân duyên từ trong quá khứ xa xôi, tức vô thủy kiếp về trước.
Theo đó, tác giả khẳng định: “Từ vô thủy do vô minh mê mờ, các vọng động từ từ sinh khởi tức hành. Đây là nói về trạng thái của mười hai nhân duyên từ vô thủy, do vô minh vọng động tạo tác mà có thế giới và chúng sinh và cứ như thế, tiếp tục sinh khởi cho đến ngày nay và mãi mãi về sau. Hòa Thượng Thích Thanh Kiểm cũng đã từng đề cập đến trong tác phẩm: “ Lịch Sử Phật giáo Ấn Độ” rằng: “Đức Thế tôn người đã quan sát thế giới theo hai dạng thức khác nhau, tức là hiện thực thế giới quan và lý tưởng thế giới quan.