MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Thủ đô Hà Nội là một trong những trung tâm phát triển kinh tế, chính trị, xã hội lớn nhất nƣớc ta (cùng với TP. Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng…). Bên cạnh vai trò và vị trí quan trọng của mình trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị và xã hội, Hà Nội còn đƣợc biết đến nhƣ là một thành phố của ao, hồ, sông ngòi… với khoảng 20 hồ trong khu vực nội thành có diện tích mặt nƣớc khoảng 765ha (Hoàng Văn Thắng, Lê Diên Dực, 2010).
Trong các thủy vực đó, hồ là loại thủy vực khá lớn với vai trò và có tầm quan trọng liên quan trực tiếp đến đời sống văn hóa, phong tục tập quán và nuôi trồng thủy sản của cƣ dân sống trong khu vực. Trong số các ao hồ tại thủ đô Hà Nội, Hồ Tây tại quận Tây Hồ là hồ tự nhiên lớn nhất với diện tích đƣợc xác định là 527,517ha (theo nghiên cứu của Viện ST Tài nguyên và Sinh Vật, 2011), dung tích nƣớc khoảng 9 triệu m3 (một số ý kiến khác cho rằng hiện nay diện tích của Hồ Tây nhỏ hơn - ƣớc đạt chỉ còn khoảng 517ha). Hồ Tây đƣợc xem là một cảnh quan thiên nhiên đẹp và độc đáo ở ngay nội thành Hà Nội, đây là địa danh gắn liền với lịch sử của dân tộc Việt Nam nói chung và lịch sử của thủ đô Hà Nội nói riêng. Với vị trí nằm ở trung tâm của thủ đô Hà Nội, ngoài chức năng điều hòa không khí, Hồ Tây còn có nhiều giá trị/chức năng khác nhƣ: nuôi trồng thủy sản, tiếp nhận và điều tiết nƣớc ngầm, kiểm soát ngập lụt và dòng chảy, tiếp nhận và giữ chất lắng đọng, tiếp nhận và giữ chất dinh dƣỡng, vui chơi giải trí và du lịch… (Hoàng Văn Thắng, 2003).
Có thể thấy rằng Hồ Tây là một sinh cảnh rất quan trọng trong cân bằng sinh thái và bảo vệ môi trƣờng của thủ đô. Vì vậy, việc bảo tồn và phát huy các giá trị của Hồ Tây cần đƣợc tiến hành cùng với sự phát triển kinh tế xã hội, văn hóa và du lịch của thủ đô Hà Nội. Tuy nhiên, trong bối cảnh phát triển đô thị và đặc biệt là quá trình đô thị hóa hiện nay, diện tích hồ ngày càng bị thu hẹp. Các chức năng hệ sinh thái của hồ đã và đang có nhiều thay đổi thay đổi - chủ yếu theo hƣớng xấu đi.
Bên cạnh đó, biến đổi khí hậu ngày càng trở nên hiện hữu 1 1 nhất là các hiện tƣợng thời tiết cực đoan nhƣ mƣa lớn, ngập lụt, nắng nóng,…. Bởi vậy, việc “Nghiên cứu các chức năng hệ sinh thái ĐNN Hồ Tây và những ảnh hƣởng của phát triển đô thị tới các chức năng đó” để nhận thức đƣợc tầm quan trọng và có thể đƣa ra biện pháp nhằm duy trì, bảo vệ tính đa dạng sinh học trong hệ sinh thái hồ, bảo đảm chất lƣợng môi trƣờng hồ ở mọi khía cạnh trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Hà Nội là việc làm hết sức quan trọng và cấp thiết. Mục tiêu nghiên cứu Đề tài tập trung nghiên cứu vào các mục tiêu sau: - Xác định hiện trạng các chức năng của hệ sinh thái ĐNN Hồ Tây. - Xác định các đặc trƣng của phát triển đô thị tại khu vực quận Tây Hồ.
- Nghiên cứu cứu những ảnh hƣởng của các hoạt động phát triển đô thị tới các chức năng, từ đó đề xuất các giải pháp để hạn chế những ảnh hƣởng tiêu cực, phát huy những mặt tích cực để việc sử dụng, khai thác Hồ Tây đƣợc hiệu quả và bền vững. Phạm vi nghiên cứu - Phạm vi về không gian: Đề tài nghiên cứu tại khu vực Hồ Tây và quận Tây Hồ - là khu vực có vị trí và vai trò quan trọng của thành phố Hà Nội, trong đó đề tài tập trung vào Hồ Tây và khu vực xung quanh Hồ Tây. - Phạm vi về chuyên môn: Đề tài tập trung nghiên cứu đến các khía cạnh sau: (1) ĐNN đô thị và các chức năng của chúng; (2) Tác động/ ảnh hƣởng của phát triển đô thị lên các chức năng của ĐNN. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.
Hệ sinh thái đất ngập nước Định nghĩa ĐNN: Có nhiều định nghĩa về ĐNN, có thể kể vài định nghĩa tại một số quốc gia nhƣ sau: (1) Theo định nghĩa của Cơ quan Thủy sản và Động vật Hoang dã của Hoa Kỳ: “ĐNN là những đất chuyển tiếp giữa hệ trên cạn và hệ thủy sinh. Ở đó, mực nƣớc ngầm thƣờng gần với mặt đất hay đất bao phủ bởi lớp nƣớc nông… ĐNN phải có một hay một số trong 3 thuộc tính sau đây: (1) ít nhất định kỳ đất phải hỗ trợ thực vật thủy sinh chiếm ƣu thế; (2) nền đáy phải là đất luôn ẩm ƣớt; và (3) nền đáy không phải là đất thông thƣờng và bão hòa nƣớc hoặc bị bao phủ bởi nƣớc nông trong thời gian sinh trƣởng của mỗi năm” (Corwardin và nnk, 1979, trong Lê Diên Dực và Hoàng Văn Thắng, 2012). (2) Theo các nhà khoa học Canada: “ĐNN là đất bão hòa nƣớc trong thời gian dài đủ để hỗ trợ cho các quá trình thủy sinh. Đó là những nơi khó tiêu thoát nƣớc, có thực vật thủy sinh và các hoạt động sinh học thích hợp với môi trƣờng ẩm ƣớt” (Lê Văn Khoa, Nguyễn Cử, Trần Thiện Cƣờng, Nguyễn Xuân Huân, 2008).
(3) Theo các nhà khoa học New Zealand: “ĐNN là một khái niệm chung để chỉ những vùng đất ẩm ƣớt từng thời kỳ hoặc thƣờng xuyên,. Những vùng ngập nƣớc ở mức cạn và những vùng chuyển tiếp giữa đất và nƣớc. Nƣớc có thể là nƣớc ngọt, nƣớc lợ hoặc nƣớc mặn. ĐNN ở trạng thái tự nhiên hoặc đặc trƣng bởi các loại thực vật và động vật thích hợp với điều kiện sống ẩm ƣớt” (Lê Văn Khoa, Nguyễn Cử, Trần Thiện Cƣờng, Nguyễn Xuân Huân, 2008).
ĐNN rất đa dạng, có mặt khắp mọi nơi và là cấu thành quan trọng của các cảnh quan trên mọi miền của thế giới. Hàng thế kỷ nay, con ngƣời và các nền văn hoá nhân loại đƣợc hình thành và phát triển dọc theo các triền sông hoặc ngay trên các vùng ĐNN. ĐNN đã và đang bị suy thoái và mất đi ở mức báo động, mặc dù ngày nay ngƣời ta đã nhận biết đƣợc các chức năng và giá trị to lớn của chúng. Các nhà khoa học về ĐNN đã xác định đƣợc những điểm chung của ĐNN thuộc các loại hình khác nhau, đó là chúng đều có nƣớc nông hoặc đất bão hoà nƣớc, tồn trữ các chất hữu cơ thực vật phân huỷ chậm, và nuôi dƣỡng rất nhiều loài động vật, thực vật thích ứng với điều kiện bão hoà nƣớc (Hoàng Văn Thắng, Lê Diên Dực, 2006).
Đất ngập nƣớc thƣờng tồn tại tại những nơi chuyển tiếp giữa HST trên cạn và HST thủy sinh thƣờng xuyên Nguồn: Lê Diên Dực, Hoàng Văn Thắng, 2012 ĐNN có vai trò rất quan trọng đối với đời sống của các cộng đồng dân cƣ, kể cả 4 dân cƣ sinh sống tại các đô thị. Hiện nay, khoảng 70% dân số thế giới sống ở các vùng cửa sông ven biển và xung quanh các thuỷ vực nƣớc ngọt nội địa (Dugan, 1990). Đất ngập nƣớc còn là nơi sinh sống của một số lƣợng lớn các loài động vật và thực vật, trong đó có nhiều loài quí hiếm (Hoàng Văn Thắng, Lê Diên Dực, 2006). Các loại hình ĐNN Hà Nội: ĐNN Hà Nội có thể chia thành 9 loại hình chính nhƣ sau: - Đất ngập nƣớc nội địa: 1.
M) Sông, suối có nƣớc chảy thƣờng xuyên. O) Hồ nƣớc ngọt ngập thƣờng xuyên (trên 8ha). Tp) Ao, hồ nƣớc ngọt ngập thƣờng xuyên (dƣới 8ha). - Đất ngập nƣớc nhân tạo: 4.
1) Ao nuôi thuỷ sản (tôm, cá, nhuyễn thể). 3) Các hồ chứa nƣớc. 4) Đất nông nghiệp ngập lụt theo mùa. 5) Các hồ xử lý nƣớc thải.
6) Kênh, mƣơng thoát nƣớc. Các chức năng/ giá trị của ĐNN: (1) Theo Wiliam J.Mistch và James Gosseling (1986): Các chức năng của ĐNN gồm: (1) Chức năng cải thiện chất lƣợng nƣớc. (2) Chức năng dự trữ ngập lụt. (3) Là sinh cảnh cho cá và động vật hoang dã, (4) Chức năng thẩm mỹ và năng suất sinh học.
(2) Theo Hoàng Văn Thắng và Lê Diên Dực (2012): Chức năng của hệ sinh thái đƣợc xem xét tới các yếu tố bao gồm: 5 (1) Năng suất sơ cấp. (2) Sự phân hủy và sự tiêu thụ. (3) Xuất khẩu chất hữu cơ. Trên cơ sở 5 yếu tố trên và tùy theo mỗi loại hình hệ sinh thái (HST ĐNN ven biển và HST ĐNN nội địa) mà mỗi loại hình HST sẽ có những chức năng khác nhau.
(3) Theo Lê Văn Khoa, 2008: Các chức năng ĐNN có thể đƣợc chia thành các nhóm sau: Nhóm chức năng sinh thái: Bao gồm chức các chức năng - Chức năng nạp nƣớc ngầm. - Chức năng hạn chế ảnh hƣởng lũ lụt. - Chức năng ổn định vị khí hậu. - Chức năng chống sóng, bão, ổn định bờ biển và chống xói mòn.
- Chức năng xử lý nƣớc, giữ lại chất cặn, độc. - Chức năng giữ lại chất dinh dƣỡng. - Chức năng sản xuất sinh khối. - Chức năng giao thông thủy.
- chức năng giải trí, du lịch. Nhóm các chức năng kinh tế: Bao gồm các chức năng sau - Chức năng cung cấp các giá trị về tài nguyên rừng, cung cấp thủy sản, tài nguyên cỏ và tảo biển. - Chức năng cung cấp các sản phẩm về nông nghiệp. - Cung cấp nƣớc ngọt và tiềm năng về năng lƣợng.
Về các giá trị đa dạng sinh học: ĐNN là nơi cƣ trú cho nhiều loài động vật 6 hoang dã đặc biệt là các loài chim nƣớc trong đó có các loài chim di trú; ngoài ra giá trị đa dạng sinh học còn bao gồm giá trị văn hóa, du lịch sinh thái, tri thức bản địa, …. Theo mục tiêu phát triển thiên niên kỷ, 2005: Đánh giá thiên niên kỷ HST có các dịch vụ/chức năng và các mối quan hệ tới các thành tố của phúc lợi xã hội nhƣ sau (hình 1. Dịch vụ cung cấp: Cung cấp lƣơng thực – thực phẩm; cung cấp nƣớc sạch, gỗ, sợi, củi đốt, khoáng sản và tài nguyên di truyền. Dịch vụ điều tiết: Điều tiết khí hậu, lũ lụt, thiên tai và lọc sạch nguồn nƣớc.
Dịch vụ văn hóa: Giá trị thẩm mỹ, tinh thần, về giáo dục và nghỉ dƣỡng. Dịch vụ hỗ trợ: Gồm chu trình dinh dƣỡng, hình thành đất và sản phẩm sơ cấp. Mối liên quan giữa các dịch vụ HST với các thành tố của cuộc sống thịnh vƣợng Nguồn: Trương Quang Học, 2011 Với việc xem xét và đánh giá dịch vụ hệ sinh thái gồm 4 yếu tố nêu trên.