Tổng quan nghiên cứu

Trong hơn 30 năm đổi mới và hội nhập quốc tế từ năm 1986 đến năm 2018, hệ thống các tổ chức xã hội tại Việt Nam đã có bước phát triển vượt bậc về số lượng và loại hình. Cả nước hiện ghi nhận khoảng 500 hội cấp trung ương, 4.000 hội cấp tỉnh, hơn 10.000 hội cấp huyện, xã cùng 1.800 tổ chức khoa học phi chính phủ và 150 hiệp hội ngành nghề. Tuy nhiên, thực tiễn xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đặt ra yêu cầu cấp thiết phải giải quyết mâu thuẫn giữa sự mở rộng quy mô bề nổi với chiều sâu năng lực tự chủ, tính chuyên nghiệp và hiệu quả phản biện chính sách của các tổ chức này.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là luận giải bản chất triết học - chính trị về mối quan hệ biện chứng giữa tổ chức xã hội và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam. Mục tiêu cụ thể là làm rõ cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng thể chế hóa quyền lực và thực thi quyền lực của nhân dân thông qua hai trụ cột: giám sát xã hội và phản biện chính sách. Phạm vi nghiên cứu bao quát tiến trình phát triển từ năm 1986 đến năm 2018 trên địa bàn cả nước, tập trung khảo sát dữ liệu thực tế tại các trung tâm kinh tế - chính trị lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng.

Ý nghĩa khoa học của công trình nằm ở việc xác lập hệ tiêu chí đánh giá mức độ đóng góp của các tổ chức xã hội vào quá trình hoàn thiện thể chế pháp lý, góp phần nâng cao chỉ số minh bạch công quyền và thúc đẩy quyền làm chủ trực tiếp của nhân dân trong giai đoạn hiện đại hóa đất nước.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước, bản chất quyền lực nhân dân và nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, khẳng định nguyên tắc cốt lõi: tất cả mọi quyền lực đều thuộc về nhân dân. Bên cạnh đó, đề tài tiếp cận có chọn lọc các lý thuyết hiện đại trên thế giới như Thuyết Tân tự do về vai trò cân bằng của khu vực thứ ba, Mô hình Xã hội tốt lành (Good Society) với sự tương tác hài hòa giữa nhà nước, thị trường và xã hội công dân, cùng mô hình mạng lưới xã hội của CIVICUS.

Năm khái niệm then chốt được chuẩn hóa và xuyên suốt toàn bộ công trình gồm: Tổ chức xã hội (các thực thể tự nguyện, phi lợi nhuận, tự chủ), Xã hội dân sự (không gian tương tác công dân ngoài nhà nước và thị trường), Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (mô hình tổ chức quyền lực tối thượng của pháp luật dựa trên quyền làm chủ của nhân dân), Phản biện xã hội (hoạt động cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện chính sách) và Giám sát xã hội (cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước từ phía nhân dân).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp quy mô lớn từ hệ thống báo cáo thống kê của Bộ Nội vụ, các văn bản quy phạm pháp luật như Nghị định số 88/2003/NĐ-CP, Nghị định số 148/2007/NĐ-CP, tài liệu đánh giá của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) và hơn 60 công trình chuyên khảo uy tín.

Cỡ mẫu phân tích bao gồm toàn bộ 9 tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp cấp trung ương, kết hợp phương pháp chọn mẫu điển hình đối với 1.545 hội đoàn tại 3 đô thị đại diện (500 hội tại Hà Nội, gần 600 hội tại Thành phố Hồ Chí Minh, 445 hội tại Đà Nẵng) và khảo sát hoạt động của hơn 900 tổ chức phi chính phủ quốc tế. Phương pháp phân tích - tổng hợp, logic - lịch sử và hệ thống - cấu trúc - chức năng được lựa chọn vì tính ưu việt trong việc mổ xẻ các mối quan hệ đa tầng giữa thiết chế nhà nước và các nhóm liên kết xã hội trong tiến trình đổi mới từ năm 1986 đến tháng 5 năm 2018.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, mạng lưới tổ chức xã hội tại Việt Nam bùng nổ về số lượng nhưng phân bố không đồng đều. Với hơn 14.500 hội các cấp và 1.800 tổ chức phi chính phủ, mật độ tập trung tại ba đô thị lớn (Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng) chiếm hơn 10% tổng số hội toàn quốc, trong khi các khu vực miền núi và nông thôn chủ yếu duy trì các nhóm tự quản cộng đồng phi chính thức.

Thứ hai, vai trò phản biện xã hội trong quy trình lập pháp đã được thể chế hóa từng bước theo Nghị định số 88/2003/NĐ-CP, song hiệu quả thực tế chưa đồng đều. Khoảng 15% đến 20% các tổ chức chuyên môn (như Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam - VUSTA, Hội Luật gia Việt Nam) đóng góp ý kiến có giá trị cao vào các dự thảo luật, trong khi phần lớn các hội địa phương còn thụ động, nặng về hình thức.

Thứ ba, sự phân hóa sâu sắc về cơ chế tài chính và mức độ tự chủ. Trong khi 9 tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp lớn vẫn vận hành dựa trên ngân sách nhà nước cấp phát, thì khoảng 200 quỹ từ thiện và hàng nghìn hội nghề nghiệp độc lập phải tự chủ tài chính 100%, gặp nhiều áp lực duy trì sau khi các nguồn tài trợ quốc tế tái cơ cấu từ năm 2018.

Thứ tư, các tổ chức xã hội thể hiện vai trò cứu cánh hiệu quả trong cung ứng dịch vụ công và bảo trợ xã hội, giúp giảm tải khoảng 5% đến 10% gánh nặng chi ngân sách cho các chương trình xóa đói giảm nghèo, y tế cộng đồng và phòng chống thiên tai.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân của những hạn chế trên xuất phát từ rào cản nhận thức của một bộ phận cán bộ công quyền khi vẫn xem tổ chức xã hội là cánh tay nối dài hành chính hoặc e ngại sự phản biện độc lập. Về mặt pháp lý, việc thiếu vắng một đạo luật thống nhất về hội khiến ranh giới hoạt động của các tổ chức này chưa thực sự thông thoáng.

So với các mô hình phương Tây mang tính đối trọng xung đột, tổ chức xã hội tại Việt Nam vận hành theo cơ chế đồng thuận xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước, hướng tới mục tiêu tối thượng là quyền lợi nhân dân. Để làm rõ sự vận động này, dữ liệu nghiên cứu có thể được trực quan hóa qua biểu đồ cột phân tầng thể hiện tốc độ tăng trưởng số lượng hội giai đoạn 1975-1985 so với giai đoạn 1986-2018, kết hợp bảng ma trận so sánh 9 nhóm tổ chức theo các tiêu chí: mức độ tự chủ tài chính, năng lực phản biện chính sách và phạm vi cung ứng dịch vụ công.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện đồng bộ khung khổ pháp lý về quyền lập hội. Quốc hội và Bộ Nội vụ cần khẩn trương nghiên cứu xây dựng và ban hành Luật về Hội mới nhằm chuẩn hóa quy chế thành lập, đăng ký và hoạt động cho hơn 14.500 tổ chức xã hội, hoàn thành trong giai đoạn 2018 - 2020.

Thứ hai, thiết lập quy chế bắt buộc về phản biện xã hội trong quy trình xây dựng pháp luật. Các cơ quan soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật tại các bộ, ngành phải quy định chỉ tiêu 100% các dự thảo chính sách kinh tế - xã hội quan trọng phải gửi lấy ý kiến phản biện từ các hiệp hội ngành nghề và viện nghiên cứu độc lập, thực hiện phản hồi giải trình công khai bằng văn bản trong thời hạn 30 ngày kể từ năm 2019.

Thứ ba, đổi mới cơ chế phân bổ tài chính công và chuyển giao dịch vụ sự nghiệp. Chính phủ và Bộ Tài chính cần cắt giảm dần mức bao cấp hành chính trực tiếp xuống dưới 50% đối với các hội đặc thù, chuyển sang cơ chế đấu thầu đặt hàng nhiệm vụ công, phấn đấu chuyển giao khoảng 15% đến 20% dịch vụ công sang các tổ chức xã hội nghề nghiệp đảm nhận trước năm 2022.

Thứ tư, nâng cao năng lực quản trị nội bộ và tính minh bạch trách nhiệm giải trình. Ban lãnh đạo các tổ chức xã hội, các quỹ từ thiện phải áp dụng chuẩn mực kiểm toán độc lập, công khai 100% nguồn thu và báo cáo chi tiêu tài chính hàng năm từ năm 2018 nhằm củng cố niềm tin xã hội.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là các nhà hoạch định chính sách, cán bộ quản lý nhà nước tại Bộ Nội vụ, Ban Dân vận và các cơ quan tư pháp: Luận văn cung cấp luận cứ khoa học và dữ liệu thực tiễn để rà soát, sửa đổi các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý hội đoàn và quỹ xã hội.

Nhóm thứ hai là ban lãnh đạo các tổ chức phi chính phủ, hiệp hội doanh nghiệp và các quỹ từ thiện: Kết quả nghiên cứu giúp định hình chiến lược vận động chính sách chuyên nghiệp, nâng cao năng lực phản biện và xây dựng mô hình tự chủ tài chính bền vững.

Nhóm thứ ba là giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Triết học, Chủ nghĩa xã hội khoa học, Chính trị học và Luật học: Tài liệu đóng vai trò là công trình tham khảo chuyên sâu về lý luận nhà nước pháp quyền và phát triển xã hội dân sự tại Việt Nam.

Nhóm thứ tư là các chuyên gia phân tích tại các tổ chức quốc tế và tổ chức phi chính phủ nước ngoài: Đề tài giúp nắm bắt đầy đủ đặc thù thể chế chính trị và cơ chế phối hợp hoạt động phát triển cộng đồng tại Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

Tổ chức xã hội ở Việt Nam có đặc điểm gì khác biệt so với xã hội dân sự phương Tây? Tại Việt Nam, các tổ chức xã hội không đóng vai trò đối lập hay cạnh tranh quyền lực với nhà nước. Hệ thống này vận hành trên nguyên tắc đồng thuận xã hội, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản nhằm hiện thực hóa mục tiêu dân chủ xã hội chủ nghĩa và bảo vệ quyền làm chủ của nhân dân.

Các tổ chức xã hội tham gia thể chế hóa quyền lực của nhân dân qua những kênh nào? Hình thức chủ yếu là phản biện xã hội đối với các dự thảo chính sách theo quy định tại Nghị định số 88/2003/NĐ-CP. Thông qua việc đóng góp ý kiến chuyên môn của hơn 150 hiệp hội ngành nghề và 1.800 tổ chức khoa học, các chính sách ban hành giảm thiểu tính chủ quan và sát với thực tiễn.

Cơ chế tài chính của các tổ chức xã hội tại Việt Nam hiện nay phân hóa ra sao? Thực tế tồn tại hai nhóm chính: 9 tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp lớn được ngân sách nhà nước hỗ trợ một phần kinh phí hoạt động, trong khi các hội nghề nghiệp, quỹ từ thiện và tổ chức phi chính phủ phải hoàn toàn tự trang trải thông qua hội phí và tài trợ xã hội.

Thách thức lớn nhất đối với các tổ chức phi chính phủ tại Việt Nam sau năm 2018 là gì? Thách thức lớn nhất là nguy cơ sụt giảm nguồn tài chính khi nhiều nhà tài trợ quốc tế rút lui hoặc chuyển đổi mô hình viện trợ sau năm 2018. Điều này buộc các tổ chức phải nhanh chóng chuyển đổi sang mô hình doanh nghiệp xã hội hoặc tìm kiếm nguồn lực nội địa.

Giải pháp nào để nâng cao tính ràng buộc của ý kiến phản biện xã hội? Cần ban hành quy định pháp lý bắt buộc các cơ quan soạn thảo phải tiếp thu hoặc có văn bản giải trình chính thức lý do không tiếp thu ý kiến phản biện của các tổ chức chuyên môn trong thời hạn tối đa 30 ngày trước khi trình phê duyệt chính sách.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở triết học Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh về mối quan hệ giữa tổ chức xã hội và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
  • Bức tranh thực tiễn với hơn 14.500 hội đoàn và 1.800 tổ chức phi chính phủ khẳng định bước tiến lớn về dân chủ hóa nhưng bộc lộ rõ nhu cầu cấp bách phải hoàn thiện thể chế tự chủ.
  • Đóng góp trọng tâm của đề tài là làm sáng tỏ vai trò kép của tổ chức xã hội: vừa tham gia thể chế hóa quyền lực qua phản biện chính sách, vừa bảo đảm thực thi quyền lực qua giám sát công quyền.
  • Lộ trình giai đoạn 2018 - 2022 đặt mục tiêu trọng tâm vào việc ban hành Luật về Hội mới và cắt giảm 50% bao cấp hành chính để chuyển sang cơ chế đặt hàng dịch vụ công.
  • Các nhà nghiên cứu và cơ quan quản lý cần tiếp tục khai thác các luận cứ của luận văn để thúc đẩy quá trình xây dựng thể chế quản trị quốc gia hiện đại, minh bạch và vì nhân dân.