CHƯƠNG 1 TƯ TƯỞNG VỀ NHÀ NƯỚC CỦA MONTESQUIEU 1. NHỮNG TIỀN ĐỀ HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG VỀ NHÀ NƯỚC CỦA MONTESQUIEU 1. Tiền đề khách quan a. Những điều kiện kinh tế Sang thế kỷ XVIII, nước Pháp rơi vào tình trạng khủng hoảng trầm trọng về mọi mặt trong lĩnh vực kinh tế.
Tài chính đang đi vào khó khăn khi vừa phải chi phí cho chiến tranh để giữ vững vị thế của mình trong châu lục cũng như tiếng nói ở các nước thuộc địa của mình. Mặt khác thì việc cần tiền để duy trì hoạt động của bộ máy nhà nước cũng tiêu tốn không kém khi chế độ phong kiến ngày càng suy đồi về đạo đức. Ngân sách nhà nước lâm vào bế tắc khi phải chi phí cho quá nhiều việc, đứng trước thực trạng đó, manh nha hình thành một số tư tưởng cải cách, nhưng chính nền móng quá lâu đời của chế độ phong kiến đã cản bước những tư tưởng ấy thành hiện thực. Lúc này, để giải quyết nhanh vấn đề tài chính thì việc đưa ra và áp dụng khung hệ thuế mới là có vẻ hợp lý nhất, từ đây trên nước Pháp và đặc biệt là các thuộc địa của Pháp, chính sách thuế là vấn đề nóng được quan tâm nhiều nhất.
Các loại thuế mới ra đời chủ yếu tập trung đánh vào lĩnh vực nông nghiệp và công thương nghiệp. Với mức thuế cao và nhiều loại thuế khác nhau nó có thể giải quyết được tạm thời vấn đề tài chính cho nhà nước tuy nhiên quay lại với người dân thì đó là một đòn gánh nặng, thuế từ đó trở thành vấn nạn trong kinh tế nước Pháp thời bấy giờ. Cũng chính vì chính sách thuế nặng nề nên việc kìm hãm quá trình sản xuất thể hiện rõ, đại bộ phận nông dân lâm vào tình cảnh ngày càng khó khăn hơn, khổ cực hơn. Nông nghiệp là lĩnh vực sản xuất chính của kinh tế bị ảnh hưởng nhiều Luan van 9 nhất.
Vốn dĩ nền nông nghiệp đã lạc hậu, với công cụ và phương thức sản xuất kém phát triển thì nay với chính sách thuế mới đã đẩy nông nghiệp vào con đường khó hơn. Đó là có đến 1/3 đất đai bị bỏ hoang, năng suất lao động cũng giảm sút nghiêm trọng. Một khi nông nghiệp là nền chính mà lại đi xuống như thế thì càng đẩy kinh tế vào con đường khó khăn hơn. Và đây được xem như là hệ lụy của chế độ phong kiến đang suy tàn chỉ dựa phần lớn vào việc bóc lột những người nông dân khốn khổ để mang lại sự xa hoa cho chốn cung đình và những kẻ nắm giữ đất đai.
Công nghiệp cũng không hơn gì nông nghiệp. Trong khi cái thiết yếu nhất là sản xuất hàng tiêu dùng – cái phục vụ cho số đông người dân- vừa có sức tiêu thụ thấp lại vừa không được tập trung vào sản xuất thì các mặt hàng cao cấp lại rất được chú trọng đầu tư. Cùng với sự phát triển trì trệ là những quy định nhiêm ngặt của các phường hội, sự không thống nhất về mặt thuế khóa hay hệ thống đo lường giữa các vùng miền đã gây nhiều cản trở cho quá trình trao đổi, mua bán hàng hóa. Nhìn chung công nghiệp nước Pháp vẫn nằm trong sự kìm kẹp của chế độ phong kiến, quy mô sản xuất nhỏ, sản phẩm rập khuôn không phong phú đa dạng.
Không có sự thống nhất trong buôn bán trao đổi của nội thương trong nước cũng đã kéo theo những ảnh hưởng tới quá trình phát triển của ngoại thương. Mặc dù giao thương giữa Pháp với các nước lớn, đặc biệt là với thuộc địa có phần khả quan hơn so với công, nông nghiệp và thương nghiệp trong nước nhưng chế độ phong kiến lạc hậu là nguyên nhân chính kìm hãm sự phát triển chung của kinh tế Pháp. Tóm lại, nền kinh tế nước Pháp vào thời ký này đã phản ánh khá rõ nét những mâu thuẫn trong lòng xã hội. Với phương thức sản xuất cũng như với thái độ chính trị của chế độ phong kiến đương thời đã bắt đầu tạo nên những bất đồng và cản trở sự phát triển chung của xã hội.
Nó đẩy người dân nước này đứng trước sự cơ cực và sức ép khôn cùng, và chính nó đã làm nên ngọn Luan van 10 lửa âm ỉ trong lòng xã hội, chỉ cần có cơ hội là sẽ bùng cháy thành ngọn lửa cách mạng. Những điều kiện chính trị - xã hội Vào thế kỷ XVIII, trong lòng xã hội nước Pháp nảy sinh nhiều mâu thuẫn và các vấn đề dân chủ trở nên phức tạp hơn bao giờ hết. Xã hội tồn tại với một bên là chế độ phong kiến đã lỗi thời, với sự xuống cấp của bộ máy cầm quyền cũng như sự lạc hậu trong phương thức sản xuất, nhân dân sống trong khó khăn và sự ức chế đến tột cùng với một bên là chủ nghĩa tư bản đang lên và phát triển ngay trong lòng xã hội phong kiến. Nhờ sự phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, giai cấp tư sản cũng dần trở thành một lực lượng mới trong xã hội, có quyền lực về kinh tế nhưng không nắm giữ về chính trị, vẫn bị sự kìm kẹp của chế độ phong kiến.
Những mâu thuẫn trong lòng nước Pháp âm ỉ nhưng vô cùng mãnh liệt, nó đang chờ cơ hội để bùng lên, sự vươn lên của những lực lượng mới để xóa bỏ sự thống trị của chế độ cai trị lạc hậu, ngày càng sa đọa, bóc lột sức lao động của nhân dân với chính sách thuế khóa nặng nề… Hệ thống quan lại, quý tộc phong kiến trở thành cái ung nhọt làm đau cả xã hội, sự tồn tại của tầng lớp này là nhờ vào thuế của nhân dân đóng góp. Đã vậy chúng còn cho mình cái quyền được hưởng lợi, không phải đóng thuế mà chỉ cần ngồi đếm tiền từ tay dân. Quyền bình đẳng của người dân cũng bị loại bỏ ra khỏi pháp luật, dẫn đến sự bất bình trong nhân dân. Nhân dân bị đẩy tới bước đường cùng, họ vừa bị mất cả quyền lợi kinh tế và cũng bị mất đi cả quyền con người, quyền tự do dân chủ.
Trước một cuộc sống như vậy, buộc người dân cũng phải đấu tranh đòi quyền lợi cho mình và các phong trào của nhân dân chống lại chế độ phong kiến ngày càng nhiều hơn. Mục đích của người dân là đấu tranh đòi quyền tự do, dân chủ cũng như những quyền lợi trong kinh tế, còn giai cấp tư sản, tiến Luan van 11 hành đấu tranh là để thủ tiêu, lật đổ chế độ xã hội đang tìm mọi cách để kìm hãm bước phát triển của họ. Tất nhiên, trước làn sóng đấu tranh ấy, chế độ phong kiến đã thẳng tay đàn áp…, ra lệnh đốt sách báo, gắng “bóp chết” những hệ tư tưởng đang có sức ảnh hưởng tới người dân. Chế độ phong kiến trở thành lực lượng đối lập với cả xã hội và cần thiết phải xóa bỏ để xây dựng một chế độ mới hoàn thiện hơn, xã hội mang lại tự do, bình đẳng cho nhân dân và phục hồi lại nền kinh tế.
Hoàn cảnh lịch sử của xã hội Pháp lúc này là đã hội đủ các điều kiện, đủ cơ sở và tiềm lực để tiến hành một cuộc cách mạng lật đổ phong kiến với sự đồng thuận cao của mọi tầng lớp trong xã hội. Trong cuộc đấu tranh này, tư sản là giai cấp tiên phong kêu gọi, lãnh đạo các giai tầng trong xã hội cùng đấu tranh, làm cuộc cách mạng. Cuộc đấu tranh này cũng được sự ủng hộ lớn từ người dân và đội ngũ trí thức - những nhà tư tưởng lớn lúc bấy giờ cũng có những đóng góp không nhỏ. Các nhà tư tưởng nhận thấy đây là điều kiện thuận lợi để đấu tranh lật đổ phong kiến đồng thời cũng nêu cao tư tưởng tự do, dân chủ, bình đẳng, bác ái.
Trào lưu tư tưởng này đánh dấu bước tiến mới trong nhận thức và hành động của đông đảo các giai cấp, tầng lớp bị trị, khơi nguồn cho dòng chảy cách mạng với khát vọng: Vì sự Khai sáng và tiến bộ của nhân loại. Vấn đề đặt ra cả về lý luận và thực tiễn lúc này là: Sau khi đấu tranh giành thắng lợi, xây dựng xã hội mới với chế độ mới thì việc duy trì trật tự xã hội cũng như thúc đẩy xã hội phát triển bằng con đường nào? Một chế độ chính trị, chế độ nhà nước mới ra đời thay thế chế độ cũ, không còn sử dụng hệ tư tưởng cũ, cách cai trị cũ…bằng cách nào, bằng những công cụ nào để có thể hiện thực hóa ý tưởng nhân văn - mang lại quyền lợi, tự do, bình đẳng cho nhân dân? Và chính trong thực tiễn ấy, trong sự đòi hỏi đó của lịch sử, đã xuất hiện trào lưu tư tưởng của các nhà Khai sáng, Montesquieu là một trong Luan van 12 những nhà tư tưởng điển hình của dòng tư tưởng tiến bộ này. Tiền đề lý luận( quan điểm của Aristotle, John Locke…) Những tư tưởng về tạo lập một nhà nước hợp lý, có hiệu quả không phải đến thời cận đại mới đặt ra. Chính các nhà tư tưởng, các nhà chính trị tiến bộ thời cổ đại đã có không ít những đóng góp có giá trị cả về mặt lý luận lẫn trong thực tiễn.
Nổi lên trong số đó là Aristotle – “ Tập đại thành của văn minh Hy- La”- người đầu tiên đề cập tới lý luận về một thể chế chính trị, thể chế nhà nước hỗn hợp, trong đó manh nha hình thành tư tưởng phân chia quyền lực nhà nước. Ông cho rằng để đảm bảo sự công bằng trong dân chúng thì nhà nước phải được tổ chức có quy củ, nghĩa là phải có 3 bộ phận: bộ phận tư vấn pháp lí về hoạt động của nhà nước, bộ phận các tòa thị chính và bộ phận các cơ quan tư pháp. Ông đã quan niệm rằng trong bất kỳ nhà nước nào cũng cần phải có những yếu tố bắt buộc: cơ quan làm ra luật có trách nhiệm trông coi việc nước, các cơ quan thực thi pháp luật và các toà án [13, tr. Từ đó, ông chia lĩnh vực hoạt động của nhà nước thành 3 thành tố: nghị luận, chấp hành và xét xử.
Tư tưởng này đã được thực hành ở một số nhà nước cổ đại phương Tây mà điển hình là nhà nước Athens và Cộng hòa La Mã. Tuy nhiên, tư tưởng của Aristote mới chỉ dừng lại ở việc phân biệt các lĩnh vực hoạt động của nhà nước chứ chưa chỉ rõ phương thức vận hành cũng như mối quan hệ bên trong giữa các thành tố đó. Ông trình bày về cách thức hình thành, chức năng, quyền hạn và cơ cấu của từng bộ phận cụ thể.