CHƯƠNG 1: NHỮNG TIỀN ĐỀ CƠ BẢN HÌNH THÀNH TƯ TƯỞNG NGUYỄN TRÃI VỀ TRÁCH NHIỆM CỦA NHÀ CẦM QUYỀN ĐỐI VỚI DÂN 1.1 Tiền đề khách quan 1.1 Hoàn cảnh kinh tế - chính trị - xã hội nước ta cuối thế kỉ XIV – đầu thế kỉ XV Nguyễn Trãi không chỉ là một nhà trí thức yêu nước, mà hơn thế, ông là một danh nhân văn hóa. Tư tưởng của ông là một trong những sự phản ánh khái quát khát vọng cháy bỏng của nhân dân ở một thời kì lịch sử với nhiều biến động. Hơn thế, có thể nói, những tác phẩm của ông thực sự là “ý dân” muốn bày tỏ với nhà cầm quyền. Đất nước ta trong khoảng thời gian từ cuối thế kỉ XIV đến đầu thế kỉ XV ở vào tình trạng đầy mâu thuẫn, xung đột và khủng hoảng.
Nổi bật của việc giải quyết mâu thuẫn gay gắt giữa ngoại xâm và dân tộc là cuộc chiến đấu của nhân dân chống lại quân xâm lược, ngoài các cuộc khởi nghĩa chống lại triều đình và sự thay thế nhau của ba triều đại: Trần – Hồ - Lê trong thời gian ngắn ngủi. Cuối thế kỉ XIV, đất nước ta đang bước trong giai đoạn cuối vương triều Trần chuyển sang nhà Hồ. Về kinh tế, nước ta vẫn là một nước nông nghiệp với chế độ điền trang thái ấp. Đầu thời Trần, sau những biện pháp kinh tế về sở hữu ruộng đất thời Trần Thái Tông, chế độ tư hữu đã phát triển rất mạnh trong thời gian này.
Sự phát triển chế độ sở hữu lớn về ruộng đất – mở rộng quy mô điền trang, thái ấp của quí tộc, đã tạo nên hiện tượng quí tộc cướp ruộng của dân, giúp đại quí tộc củng cố vững chắc thế lực thống trị kinh tế và từng bước tăng cường quyền lực chính trị, quân sự. Thế lực của tầng lớp quí tộc ngày càng lớn mạnh, đại quí tộc sở hữu rất nhiều đất ruộng, thái ấp. Họ sở hữu hàng nghìn nô tì họp thành quân đội riêng, hàng ngày mở trò chèo 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hát vui thú. Quí tộc chia nhau trấn trị những vùng xung yếu trong nước và giữ những chức vụ quan trọng trong triều đình, còn chính quyền quân chủ trung ương ngày càng suy yếu.
Do vậy, để tập trung địa vị quyền lực của mình và tránh lộng quyền, cuối thời Trần, với sự tham mưu của đội ngủ Nho thần, Nhà nước Trung ương đã tấn công vào thế lực quí tộc một cách mạnh mẽ. Để vun vén gia tài và hạn chế vai trò của quí tộc bành trướng cát cứ, Trần Dụ Tông đã ra lệnh kiểm kê tài sản các nhà quyền quý có nhiều đồ quý báu, sau khi chết phải nộp cho nhà nước chứ không được để cho con cháu. Đó là cách cướp tài sản của triều đình trung ương đối với nhà giàu. Cùng với sự phát triển điền trang, thái ấp của quí tộc, là nền kinh tế tiểu nông, tiểu thủ công ra đời, dự báo cho sự xuất hiện và phát triển của sản xuất hàng hóa.
Giai cấp thương nhân ra đời và ngày càng lớn mạnh. Tuy không tham gia sản xuất nhưng thương nhân lại chiếm lấy những phần lợi tinh túy, nhanh chóng thu được của cải trở nên giàu có và gây được ảnh hưởng xã hội tương ứng với số của cải có được. Cuối thế kỉ XIV, nước ta liên tiếp gặp thiên tai. Nước ta nằm trong vành đai khí hậu nhiệt đới gió mùa, do vậy hiện tượng mưa bão, lũ lụt, hạn hán xảy ra khá thường xuyên.
Tuy nhiên thiên tai xảy ra với mức độ dày gây thiệt hại nghiêm trọng như trong thời gian này quả là điều hiếm thấy. Trong khoảng thời gian này, theo tài liệu sử học ghi chép lại, từ những năm ba mươi của thế kỉ thứ mười bốn, thiên tai liên tiếp xảy ra, đặc biệt là khoảng thời gian từ năm 1340 đến 1355, Ngô Thì Sĩ phải thốt lên “15 năm, đã sáu lần nhật thực, ba lần thủy tai, ba lần hạn hán, một lần sâu cắn lúa, lại luôn năm mất mùa đói kém. Đến đây, từ mùa xuân đến mùa thu, nào là núi lở, nào đất động, không tháng nào không có tai biến!” [38; 284]. Những năm 1343, 1354, 1357, 1378, 1405 là những năm gặp thiên tai lớn, mùa màng thất bát đẩy nhân dân vào nạn đói hoành hành dữ dội.
10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Càng về sau, quý tộc nhà Trần tăng cường thực hiện chế độ sở hữu và kiểu thức kinh doanh điền trang thái ấp nhằm ra sức củng cố lợi ích và địa vị thống trị của mình, không quan tâm đến đời sống nhân dân lao động. Vua và quan lại triều Trần thỏa sức hưởng lạc, bóc lột nông nô – nô tì ngày càng nặng nề, nền kinh tế tiểu nông không giữ được hiện trạng mà ngày càng suy yếu, kiệt quệ. Ruộng đất làng xã (công điền và quan điền) bị lấn chiếm nghiêm trọng, nhân dân rơi vào cảnh khốn cùng. Hậu quả là nhiều người chết vì đói, nhiều người tự nguyện đi làm thầy chùa và làm gia nô cho các thế gia.
Nền kinh tế của nhà Trần suy yếu nghiêm trọng, nạn cướp bóc hoành hành đẩy xã hội rơi vào rối loạn. Người nông dân cơ cực vừa phải gánh chịu thiên tai, vừa phải gánh chịu các khoản sưu cao thuế nặng. Vua và quan lại nhà Trần ăn chơi không đoái hoài đến nỗi khổ của dân, mâu thuẫn trở nên sâu sắc, nhiều cuộc nổi dậy của nông nô diễn ra. Việc duy trì chế độ đại sở hữu của quí tộc, chế độ nô tì, xây dựng chùa chiền, nuôi sống hàng trăm vạn nhà sư không những là nguyên nhân làm cho nền kinh tế suy yếu mà còn làm cho nhà nước quân chủ ngày càng mất niềm tin ở nhân dân.
Đồng thời, do chủ yếu dựa vào nông nghiệp nên nạn đói cũng đẩy Nhà nước lâm vào khủng hoảng cả về mặt tài chính và quản lí xã hội. Khi dân gặp nạn đói, Nhà nước đã kêu gọi nhà giàu góp thóc làm quân lương và phát chẩn cứu dân nghèo, điều này thể hiện sự lệ thuộc của Nhà nước vào lực lượng quí tộc, thương nhân trong việc quản lí đất nước. Quí tộc vương hầu cuối thời Trần ngày càng giàu có xa hoa, chỉ muốn lạm thu về sưu dịch từ các thái ấp, điền trang riêng của mình, bỏ mặc việc quốc gia, giao phó công việc triều chính lại cho quan lại chủ yếu là Nho sĩ. Có thể thấy rõ, ở buổi đầu nhà Trần, các vương hầu về triều đảm nhiệm các chức vụ cao nhất như Tể tướng, Hành khiển.
Nhưng đến cuối thế kỉ XIV thì những chức quan trọng trong triều đình dần được trao cho các Nho sĩ. Xu hướng 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thay dần Nhà nước quân chủ do quí tộc nắm quyền thành Nhà nước quân chủ do quan liêu nắm quyền càng thể hiện rõ. Sự thay thế dần dần công việc quản lý triều chính cho Nho sĩ thể hiện tính chất non kém và bảo thủ trong quản lí đất nước của quý tộc vương triều Trần, đặt vương triều Trần trước nhiệm vụ cấp bách là hiểu và giải quyết hợp lí các nhu cầu của thời đại, giải quyết các mâu thuẫn sâu sắc đang ngày càng gia tăng trong xã hội. Tuy nhiên, nhà Trần không thống nhất được quyền lợi của các giai tầng, lúng túng trước khủng hoảng về kinh tế và đường lối trị nước, nên dần dần truyền lại các chức quan trọng và công việc quản lí vào tay các Nho sĩ.
Tầng lớp nhà Nho dần thiết lập vị thế của mình đối với xã hội, và xuất hiện thế lực mới do Hồ Quý Ly đứng đầu. Đứng trước khủng hoảng đó, những năm 80 của thế kỉ XIV, Hồ Quý Ly đang giữ chức tể tướng, thực hiện lật đổ để truất ngôi nhà Trần. Sau khi Hồ Quý Ly lên ngôi đã tiến hành các cải cách kinh tế, chính trị, văn hóa nhằm loại bỏ những nhân tố kìm hãm sản xuất phát triển. Nhằm loại bỏ những thế lực tản quyền và ăn bám to lớn mà quí tộc thời Trần đã tạo ra, những cải cách của Hồ Quí Ly hướng đến việc hạn điền, hạn nô và thanh lọc sư tăng, bắt hoàn tục các nhà sư.
Về ruộng đất, Hồ Quý Ly quy định chỉ có đại vương và trưởng công chúa thì không hạn định, còn thứ nhân thì không quá mười mẫu, ruộng của người nào quá hạn định cho phép thì nộp vào quan điền (thuộc sở hữu nhà nước). Phép hạn điền này nhằm xóa bỏ sở hữu ruộng đất của quí tộc và của địa chủ, chỉ còn lại ruộng của tiểu nông bao gồm cả phú nông. Sau hạn điền, Hồ Quý Ly đề ra phép hạn nô, quy định số gia nô cụ thể được dùng theo địa vị xã hội, số thừa phải sung công làm quan nô. Mục đích của phép hạn nô nhằm hạn chế thế lực họ Trần.
Hạn nô và hạn điền là nhằm đánh vào thế lực quý tộc và tập trung việc khảo hạch tăng cường lực lượng kinh tế xã hội cho nhà nước. Đối với lực lượng sư sãi, Hồ Quý Ly đề ra lệnh tất cả những nhà sư 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chưa đến năm mươi tuổi phải hoàn tục, bắt các nhà sư vào quân đội, không được “trốn việc quan ở chùa”. Hồ Quý Ly còn tiến hành cải cách thuế và kiểm kê tài sản, lệnh cho nhà giàu bán thóc cho dân nghèo theo giá cả thỏa thuận, tấn công vào tầng lớp thương nhân đầu cơ thóc gạo. Đồng thời, tầng lớp lao động thủ công và thương nhân bị thu hẹp thế lực với biện pháp bắt buộc họ phải chuyển sang sản xuất nông nghiệp, tránh hiện tượng “không có ruộng mà có của”.
Kèm theo đó, với cuộc cải cách tiền tệ, Hồ Quý Ly ra lệnh thu tiền đồng nhập vào kho Ngao Trì và ban hành tiền giấy Bản sao thay thế tiền đồng làm cho nhiều thương nhân và thợ thủ công đóng cửa hàng. Năm 1403, nhà Hồ phải ra luật “xử tội những kẻ không tiêu tiền giấy, bán giá cao, đóng cửa hàng, bao che cho nhau”. Cải cách của Hồ Quý Ly đã kích mạnh vào sở hữu lớn của quý tộc, địa chủ, tu viện Phật giáo và làm suy yếu tầng lớp thương nhân. Những yêu cầu thực tiễn dân tộc đặt ra chỉ có thể giải quyết triệt để nếu được nhìn nhận hợp lí và được soi sáng bởi một hệ tư tưởng.
Tuy nhiên, không phải bất cứ ai cũng có thể tìm ra con đường phát triển hợp lý cho đất nước và cho chế độ.