đặt vấn đề khá rộng và trừu tƣợng này làm nản chí những nhà nghiên cứu tiếp theo trong lĩnh vực tƣ duy sáng tạo trong suốt hơn mƣời thế kỷ. Vì vậy mặc dù Ơrixtic tồn tại mãi với thế kỷ XVII nhƣng rất ít ngƣời biết về nó. Nhà toán học Mỹ gốc Hungary - G.Polya viết về Ơrixtic nhƣ sau ".đó là lĩnh vực nghiên cứu không có hình dáng rõ ràng nó thuộc về logic học triết học tâm lý học. Nó thƣờng đƣợc trƣng bày trên những nét chung ít khi đi vào chi tiết và thực ra bị cố tình quên đi." 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Sau một thời gian bị lãng quên khoa học sáng tạo trở lại vào giữa thế kỷ XIX khi các nhà xã hội học có những nghiên cứu giải quyết một loạt vấn đề về sáng tạo.
Họ cho rằng bản chất tích cực của sáng tạo là ở hoạt động tƣởng tƣợng. Điều này thực sự là bƣớc đột phá có ý nghĩa trong lĩnh vực nghiên cứu sáng tạo. Nó đánh đổ hoàn toàn quan điểm chung chung trừu tƣợng trƣớc đây chỉ mô tả giải thích sáng tạo qua các hồi ký, tiểu sử, các tác phẩm văn học nghệ thuật của các danh nhân, họa sĩ, nhà văn, nhà phát minh nổi tiếng. Các nhà xã hội học đã mở ra một hƣớng nhìn bao quát, triệt để, toàn diện hơn trong việc nghiên cứu hoạt động sáng tạo của con ngƣời.
Trƣớc đòi hỏi của thực tế nhiều quốc gia trên thế giới tập trung nghiên cứu sáng tạo. Mỹ là quốc gia nổi lên với cƣờng độ nghiên cứu mạnh nhất. Các nhà khoa học Mỹ tuyên bố: đối với Mỹ việc vạch ra và bồi dƣỡng những nhân cách sáng tạo là vấn đề có ý nghĩa quốc gia bởi hoạt đông sáng tạo có ý nghĩa ảnh hƣởng to lớn không chỉ đến sự tiến bộ khoa học mà còn ảnh hƣởng đến toàn bộ xã hội nói chung và dân tộc nào biết nhận ra đƣợc những nhân cách sáng tạo một cách tốt nhất cho họ những điều kiện thuận lợi nhất, thì dân tộc này sẽ có những ƣu thế lớn lao. Osborn một nhà kinh doanh Mỹ cho ra đời cuốn sách viết về tƣ duy sáng tạo.
Theo tác giả này sự thành công trên lĩnh vực kinh doanh của ông là nhờ việc ông phát minh ra phƣơng pháp " tập kích não". Những phát biểu của tác giả này đã gây đƣợc sự chú ý đặc biệt với giới khoa học và những ngƣời thích quan tâm đến vấn đề sáng tạo vì phƣơng pháp " tập kích não" dựa trên cơ sở của hoạt động này. Tuy nhiên vấn đề sáng tạo chỉ mới đƣợc nghiên cứu có hệ thống khi J.Guilford nhà tâm lý học Mỹ nhấn mạnh đến ý nghĩa của hoạt động sáng tạo đồng thời khuyến khích cổ vũ các nhà tâm lý học tham gia nghiên cứu vấn đề này trong buổi lễ nhậm chức của Chủ tịch Hội tâm lý học Mỹ. Từ đây ở 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Mỹ xuất hiện nhiều tác giả nhiều trung tâm nghiên cứu sáng tạo.
Thời kỳ này phải kể đến các tác giả Holland (1959), May (1961), Mackinon (1962), Torrance (1965), Barron, Bloom, Gezel. Đối với các nƣớc xã hội chủ nghĩa vấn đề sáng tạo đƣợc các nhà tâm lý học nghiên cứu dựa trên nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng. Trong những năm 1960 - 1980 nhiều công trình về sáng tạo đã ra đời: Tâm lí học sáng tạo của Ponanaro, V. Lịch sử vấn đề nghiên cứu ở Việt Nam Ở Việt Nam trong những năm gần đây vấn đề sáng tạo đã bắt đầu đƣợc quan tâm và nghiên cứu.
Năm 1988 Nguyễn Văn Lê [14] đã cho ra đời cuốn sách “ Cơ sở khoa học của sự sáng tạo” , đây là cuốn sách đầu tiên của Việt Nam đề cập đến vấn đề sáng tạo. Năm 1991 Phan Dũng [3], [4], [5] đã sáng lập ra trung tâm TSK (Trung tâm sáng tạo khoa học kỹ thuật) thuộc ĐGQG Hồ Chí Minh, trung tâm này bao gồm đào tạo và giảng dạy môn “Phƣơng pháp luận sáng tạo khoa học kỹ thuật”, nghiên cứu áp dụng những thành quả của Phƣơng pháp luận sáng tạo khoa học kỹ thuật giáo dục và tất cả các lĩnh vực trong lao động, sản xuất và trong cuộc sống. Ngoài ra có thể nhắc đến một số nhà nghiên cứu về Tâm lý học ở Việt Nam nhƣ Nguyễn Đức Uy [20], Lê Đức Phúc, Vũ Thị Kim Thanh, Nguyễn Huy Tú… đã viết các tài luyện chuyên khảo về vấn đề này. Hƣớng nghiên cứu chủ yếu của các tác giả vẫn tập trung về quá trình sáng tạo sản phẩm sáng tạo, nhân cách sáng tạo, ứng dụng sáng tạo trong giáo dục… Một số tác giả trong đó có Nguyễn Huy Tú [19] cũng đã nghiên cứu sâu về việc ứng dụng các bài trắc nghiệm đánh giá về khả năng sáng tạo ở Việt Nam.
Các bộ trắc nghiệm này đƣợc nghiên cứu chuyên sâu theo từng độ 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tuổi, có nguồn gốc từ Đức đƣợc Việt Hóa cho phù hợp với Việt Nam nhằm đảm bảo tính tƣơng thích. Riêng việc giảng dạy Tâm lý học sáng tạo đƣợc thực hiện vào những năm 1983 – 1984 trong các lớp cao học tại Trƣờng đại học sƣ phạm Hà Nội và sau đó bắt đầu giới thiệu cho sinh viên chính quy chuyên ngành Tâm lí giáo dục tại một số trƣờng đại học sƣ phạm từ sau năm 2000. Việc ứng dụng Tâm lý học sáng tạo ở Việt Nam đang đƣợc mở rộng theo hƣớng nghiên cứu những tài năng sáng tạo, tìm ra cơ chế tâm lý của hoạt động sáng tạo… Những ứng dụng của Tâm lý học sáng tạo trong lĩnh vực truyền thông quảng cáo bắt đầu đƣợc quan tâm và chú ý một cách mạnh mẽ từ những năm gần đây cho thấy tính triển vọng thực sự của khoa học này tại Việt Nam. Nhƣ vậy có thể nói Tâm lý học sáng tạo ở Việt Nam bƣớc đầu đƣợc nghiên cứu và thể hiện mình một cách rõ nét.
Những vấn đề cơ bản của sáng tạo đƣợc tiếp cận dần dần dƣới góc độ tâm lý học đo lƣờng sáng tạo trong Tâm lý học. Các khái niệm công cụ 1. Khái niệm trí sáng tạo Theo Từ điển tiếng Việt thì sáng tạo đƣợc hiểu là "tìm ra cái mới, cách giải quyết mới, không bị gò bó, phụ thuộc vào cái đã có." Theo từ điển Triết học, "Sáng tạo là quá trình hoạt động của con ngƣời tọ ra những giá trị vật chất,tinh thần mới về chất. Các loại hình sáng tạo đƣợc xác định bởi đặc trƣng nghề nghiệp nhƣ khoa học kỹ thuật, tổ chức quân sự.
Có thể nói sáng tạo có mặt trong mọi lĩnh vực của thế giới vật chất và tinh thần".1 Quan niệm của các nhà nghiên cứu nước ngoài Quan niệm của S. Freud thì "Sáng tạo cũng giống nhƣ giấc mơ hiện hình, là sự tiếp tục và sự thay thế trò chơi trẻ con cũ". 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.Torrance cho rằng "Sáng tạo là quá trình xác định các giả thuyết nghiên cứu chúng và tìm ra kết quả". Nhà tâm lý học Mĩ Willson cho rằng "Sáng tạo là quá trình mà kết quả là tạo ra những kết hợp mới cần thiết từ các ý tƣởng dạng năng lƣợng, các đơn vị thông tin, các khách thể hay tập hợp của hai ba yếu tố đƣợc nêu ra".
Theo tác giả Chu Quang Tiềm, Trƣờng đại học Bắc Kinh thì "Sáng tạo là căn cứ vào những ý tƣởng đã có sẵn làm tài liệu rồi cắt xé, gạt bỏ, chọn lọc tổng hợp để tạo hình một hình tƣợng mới" Theo L.Vƣgotxki thì khái niệm sáng tạo đƣợc hiểu là "Hoạt động tạo ra cái mới không phân biệt kết quả tạo ra nó có ý nghĩa hiện thực cụ thể hay có ý nghĩa về mặt tƣ duy tình cảm".Rubinxtein cho rằng "sự sáng tạo là hoạt động của con ngƣời tạo ra những chất liệu mới có ý nghĩa xã hội và những ý tƣởng đã có sẵn làm tài liệu rồi cắt xén, gạt bỏ,chọn lọc tổng hợp để tạo thành một hình tƣợng mới".Guilford (Mĩ) cho rằng tƣ duy sáng tạo là sự tìm kiếm và thể hiện những phƣơng pháp logic trong tình huống có vấn đề tìm kiếm những phƣơng pháp khác nhau và mới của việc giải quyết vấn đề, giải quyết nhiệm vụ.Rudich cho rằng sáng tạo với chức năng vƣợt trội đã tạo ra làm xuất hiện cái mới.2 Quan niệm của các nhà nghiên cứu trong nước Ở Việt Nam cũng có nhiều tác giả đƣa ra các quan niệm khác nhau về sáng tạo, vd: trong sổ tay Tâm lý học thì "Sáng tạo là hoạt động tạo lập phát hiện những giá trị vật chất và tinh thần. Sáng tạo đòi hỏi cá nhân phải phát huy năng lực, phải có động cơ, tri thức, kỹ năng và với điều kiện nhƣ vậy mới tạo nên sản phẩm mới độc đáo sâu sắc." 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tác giả Nguyễn Đức Uy cho rằng "Sáng tạo là sự đột khởi thành hành động của một sản phẩm liên hệ mới mẻ nảy sinh từ sự độc đáo của một cá nhân - một đằng là những tƣ liệu biến cố, nhân sự hay những hoàn cảnh của đời ngƣời ấy - đằng khác". [20] Tác giả Nguyễn Huy Tú [17] [18] thì cho rằng sáng tạo chỉ thể hiện khi con ngƣời đứng trƣớc hoàn cảnh có vấn đề. Quá trình sáng tạo là tổ hợp các phẩm chất và năng lực mà nhờ đó con ngƣời trên cơ sở kinh nghiệm của mình và tƣ duy độc lập tạo ra đƣợc ý tƣởng mới, độc đáo hợp lý trên bình diện cá nhân và xã hội.
Nhƣ vậy có nhiều quan niệm của các nhà nghiên cứu khác nhau về sáng tạo, nhƣng theo chúng tôi chung quy lại sáng tạo là tạo ra những giá trị vật chất và giá trị tinh thần mới có ý nghĩa với cá nhân và xã hội. Và trí sáng tạo chính là khả năng tư duy để tạo ra những giá trị vật chất và giá trị tinh thần mới có ý nghĩa với cá nhân và xã hội. Một số khái niệm liên quan đến sáng tạo 1.1 Tư duy sáng tạo Tƣ duy sáng tạo không đồng nhất với trí tuệ con ngƣời. Tƣ duy sáng tạo đƣợc hiểu là một kiểu tƣ duy đặc trƣng bởi sự sản sinh ra sản phẩm mới và xác lập các thành phần mới của hoạt động nhận thức nhằm tạo ra nó.
Các thành phần này có liên quan đến động cơ, mục đích, đánh giá, các ý tƣởng của chủ thể sáng tạo. Tƣ duy sáng tạo là khả năng giả quyết vấn đề bằng cách tạo ra cái mới nhƣng đạt đƣợc kết quả một cách hiệu quả. Tƣ duy sáng tạo gần nhƣ là tài nguyên cơ bản của con ngƣời.