phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn có kết cấu 3 chương cụ thể như sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về chính sách thu hút nhân lực khoa học và công nghệ theo mục tiêu dự án Chƣơng 2: Thực trạng chính sách thu hút nhân lực khoa học và công nghệ theo dự án của thành phố Hải Phòng Chƣơng 3: Giải pháp thu hút nhân lực khoa học và công nghệ theo mục tiêu dự án của thành phố Hải Phòng 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH THU HÚT NHÂN LỰC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THEO MỤC TIÊU DỰ ÁN 1. Một số khái niệm cơ bản liên quan 1. Nguồn nhân lực khoa học và công nghệ Việc xác định chính xác và thống nhất khái niệm nhân lực KH&CN có một ý nghĩa rất quan trọng cả trong lý luận và thực tiễn nhằm tạo thuận lợi cho công tác quản lý, sử dụng và khai thác có hiệu quả nguồn nhân lực này.
Hiện tại, có hai cách tiếp cận chủ yếu về nguồn nhân lực KH&CN là chia theo công việc của UNESCO và chia theo trình độ bằng cấp chính thức của OECD. Theo định nghĩa của OECD Nguồn nhân lực KH&CN là những người đáp ứng được một trong hai điều kiện sau: - Đã tốt nghiệp trường đào tạo trình độ nhất định về một chuyên môn KH&CN (từ công nhân có bằng cấp tay nghề trở lên hay còn gọi là trình độ 3 trong hệ giáo dục đào tạo). - Không được đào tạo chính thức nhưng làm một nghề trong lĩnh vực KH&CN mà đòi hỏi trình độ trên. Kỹ năng tay nghề ở đây được đào tạo tại nơi làm việc.
Tổng hợp theo cả hai tiêu chí nói trên thì nhân lực KH&CN theo OECD bao gồm những người: - Có bằng cấp trình độ tay nghề (tương đương hệ cao đẳng) trở lên, làm việc hoặc không làm việc trong lĩnh vực KH&CN. - Không có bằng cấp nhưng làm việc trong lĩnh vực KH&CN đòi hỏi có bằng cấp tương đương cao đẳng trở lên. Như vậy, nguồn nhân lực KH&CN theo OECD được hiểu theo nghĩa rất rộng, bao gồm cả những người tiềm tàng tiềm năng cho hoạt động KH&CN chứ không chỉ là những người đang tham gia hoạt động KH&CN. Theo định nghĩa của UNESCO Nhân lực KH&CN là những người trực tiếp tham gia vào hoạt động KH&CN trong một cơ quan, tổ chức và được trả lương hay thù lao cho lao động của họ, bao gồm các nhà khoa học, kỹ sư, kỹ thuật viên và nhân lực phù trợ.
13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Như vậy, định nghĩa của UNESCO không phân biệt nhân lực KH&CN theo bằng cấp mà phân biệt theo công việc hiện thời. Khái niệm về nhân lực KH&CN của UNESCO không bao hàm nhân lực KH&CN dạng tiềm năng. Việc so sánh nhân lực KH&CN theo UNESCO và OECD được thể hiện tại Bảng 1.1 dưới đây: Bảng 1. So sánh nhân lực khoa học và công nghệ theo UNESCO và OECD Khác biệt UNESCO OECD Nhân lực phụ trợ Được tính Không tính nếu không bằng cấp ngành KH&CN Không bằng cấp Được tính Không được tính Lĩnh vực hoạt động KH&CN Mọi lĩnh vực Bằng cấp Không Từ cao đẳng trở lên về lĩnh vực KH&CN Nguồn: Giáo trình giảng dạy chương trình cao học, môn học Chính sách phát triển nguồn lực KH&CN của Tiến sỹ Nguyễn Thị Thu (2015) Như vậy, cách tiếp cận của OECD có thể áp dụng để xác định nguồn nhân lực KH&CN của một địa phương hay quốc gia, làm cơ sở cho việc lập kế hoạch đào tạo, phát triển, cơ sở tính toán nguồn lực đầu vào cho các hoạt động có liên quan đến trình độ, tay nghề (không giới hạn ở hoạt động KH&CN).
Tiếp cận theo UNESCO chỉ xác định được nguồn nhân lực KH&CN hoạt động trong lĩnh vực KH&CN. Khi xây dựng chính sách, cần chọn lọc đối tượng mục tiêu theo tính chất công việc hay theo loại trình độ, theo lãnh thổ hay mặt cắt khác. Từ những cách tiếp cận trên cho thấy, việc đưa ra định nghĩa nhân lực KH&CN phải xuất phát từ: Mục đích sử dụng, khả năng thu nhập, thống kê được số liệu. Trong điều kiện của nước ta hiện nay, có thể sử dụng định nghĩa về nhân lực KH&CN do Tiến sỹ Nguyễn Thị Thu đưa ra để áp dụng là phù hợp, đó là: “Nguồn nhân lực KH&CN là toàn bộ những người có bằng cấp chuyên môn nào đó trong một lĩnh vực KH&CN và những người có trình độ, kỹ năng thực tế tương đương mà không có bằng cấp và tham gia một cách thường xuyên (hệ thống) vào hoạt động KH&CN”.[19; 4] Trong luận văn này, tác giả chọn nhân lực KH&CN hiểu theo định nghĩa của OECD, đó là: Toàn bộ những người có khả năng và nhu cầu lao động có bằng chuyên môn về một lĩnh vực KH&CN nào đó từ cao đẳng trở lên, hoặc không có 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com bằng cấp nhưng đảm nhiệm công việc đòi hỏi trình độ tương đương từ cao đẳng trở lên (từ trình độ 3).
Được giới hạn phạm vi đối với các đối tượng là nhân lực KH&CN làm việc tại các tổ chức KH&CN địa bàn thành phố Hải Phòng, bao gồm những người trực tiếp tham gia vào hoạt động NC&PT hoặc trực tiếp hỗ trợ hoạt động NC&PT có trình độ từ cao đẳng trở lên trên. Thu hút nhân lực khoa học và công nghệ Hiện nay có nhiều cách tiếp cận khác nhau về khái niệm Thu hút nhân lực KH&CN. Tác giả Nguyễn Chí Thắng cho rằng: “Thu hút nhân lực là việc làm những người lao động cảm thấy có hứng thú và mong muốn được làm việc cho, muốn cống hiến cho các cơ quan, tổ chức có nhu cầu tuyển dụng thông qua các chính sách, phần thưởng, nguồn lực”. [19; 19] Theo Đoàn Đức Vinh: “Thu hút nhân lực KH&CN là sự di chuyển nhân lực KH&CN có định hướng từ các nguồn cung cấp nhân lực KH&CN đến nơi cần thu hút phục vụ mục tiêu phát triển, được thực hiện bởi cơ chế chính sách của chủ thể quản lý”.
[22; 30] Trong khuôn khổ luận văn, tác giả lựa chọn cách tiếp cận của tác giả Đoàn Đức Vinh, đó là: Thu hút nhân lực KH&CN là sự di chuyển nhân lực KH&CN có định hướng từ các nguồn cung cấp nhân lực KH&CN đến nơi cần thu hút phục vụ mục tiêu phát triển, được thực hiện bởi cơ chế chính sách của chủ thể quản lý. Chính sách thu hút nhân lực khoa học và công nghệ 1. Chính sách Chính sách (policy) là một thuật ngữ được sử dụng rất phổ biến, thường xuyên, đề cập đến nhiều vấn đề, nhiều lĩnh vực trong đời sống xã hội. Tuy nhiên cho đến nay vẫn tồn tại các cách tiếp cận khác nhau về chính sách.
Vận dụng cách Tiếp cận tổng hợp về chính sách, tác giả Vũ Cao Đàm [6; 437,438] đã đưa ra nhận định về các yếu tố liên quan đến chính sách như: - Là tập hợp những biện pháp mà chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý đưa ra, được thể chế hoá thành những quy định có giá trị pháp lý, nhằm thực hiện chiến lược phát triển của hệ thống theo mục đích mà chủ thể quyền lực mong đợi. - Chính sách bao giờ cũng tạo ra một sự phân biệt đối xử của chủ thể quyền lực/chủ thể quản lý đối với các nhóm xã hội khác nhau. Trong sự phân biệt đối xử đó, chủ thể quyền lực có sự ưu đãi đối với một (hoặc một số) nhóm xã hội nào đó. 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Các biện pháp ưu đãi phải có tác dụng kích thích động cơ hoạt động của nhóm được ưu đãi, là nhóm có vai trò then chốt trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển hệ thống, nhằm thực hiện mục tiêu phát triển của hệ thống theo chiến lược mà nhóm chủ thể quyền lực hoặc chủ thể quản lý đưa ra.
- Chính sách luôn tạo ra một bất bình đẳng xã hội. Trên cơ sở đó, tác giả đã định nghĩa về chính sách, định nghĩa này cũng được Luận văn sử dụng, đó là: Chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hoá, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ, định hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội. Chính sách công Thuật ngữ “Chính sách công” được sử dụng khá phổ biến và được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau. Theo Lê Chi Mai “Chính sách công có những đặc trưng cơ bản nhất như: chủ thể ban hành chính sách công là nhà nước; chính sách công không chỉ là các quyết định (thể hiện trên văn bản) mà còn là những hành động, hành vi thực tiễn (thực hiện chính sách); chính sách công tập trung giải quyết những vấn đề đang đặt ra trong đời sống KT-XH theo mục tiêu xác định; chính sách công gồm nhiều quyết định chính sách có liên quan lẫn nhau” [9].
Ngoài các thuộc tính trên đây tác giả Tạ Ngọc Hải cho rằng “chính sách công còn có tính hệ thống, tính kế thừa lịch sử và luôn gắn với một quốc gia cụ thể với các điều kiện chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội nhất định”. [7] Qua các cách tiếp cận trên có thể thấy, tùy theo quan niệm của mỗi tác giả mà đưa ra nhấn mạnh vào đặc trưng này hay đặc trưng khác của chính sách công. Những đặc trưng này phản ánh chính sách công từ các góc độ khác nhau, song chúng đều hàm chứa những nét đặc thù thể hiện bản chất của chính sách công. Trong phạm vi nghiên cứu của Luận văn, tác giả sử dụng quan điểm tiếp cận về chính sách công dưới đây: * Trước hết, chính sách công là một dạng chính sách, mọi chính sách đều có một khung mẫu (paradigma) nhất định.
16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trên cơ sở vận dụng khái niệm khung mẫu của Thomas Kuhn và nghiên cứu cấu trúc của một chính sách, Vũ Cao Đàm đã đề xuất khung mẫu bao gồm 04 tầng [6; 486-489] được thể hiện dưới hình 1.1 dưới đây: Triết lý Triết lý Hệ quan điểm Hệ quan điểm Hệ chuẩn mực Hệ chuẩn mực Hệ khái niệm Hệ khái niệm Hình 1.1 Paradigma của chính sách Trong đó: - Triết lý (Philosophy) của chính sách là tầm tư tưởng, tầm quan trọng nhất của chính sách, đóng vai trò chi phối tất cả các tầng dưới. Triết lý của chính sách được chia ra làm triết lý mục tiêu và triết lý phương tiện.