Phần mở đầu, 3 chƣơng, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục. 7 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP. CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TẠI CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN KỸ THUẬT MÁY BAY VAECO. CHƢƠNG 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TẠI CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN KỸ THUẬT MÁY BAY VAECO.
8 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG DOANH NGHIỆP 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Nguồn nhân lực Khái niệm “nguồn nhân lực ” đƣợc sử dụng từ những năm 60 của thế kỷ XX ở nhiều nƣớc phƣơng Tây và một số nƣớc Châu Á, và giờ đây khá thịnh hành trên thế giới dựa trên quan điểm mới về vai trò, vị trí của con ngƣời trong sự phát triển. Ở nƣớc ta, khái niệm này đƣợc sử dụng rộng rãi kể từ đầu thập niên 90 của thế kỷ XX đến nay.
Tuy nhiên, khái niệm này hầu nhƣ chƣa thống nhất, tùy theo mục tiêu cụ thể mà ngƣời ta có những cách nhìn nhận khác nhau về nguồn nhân lực. Đã có nhiều quan điểm khác nhau về NNL nhƣ: Theo giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực, Đại học Kinh tế Quốc dân (2008) thì: “NNL là nguồn lực con ngƣời có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội đƣợc biểu hiện ra là số lƣợng và chất lƣợng nhất định tại một thời điểm nhất định”[1,tr. “NNL là một phạm trù dùng để chỉ sức mạnh tiềm ẩn của dân cƣ, khả năng huy động tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội trong hiện tại cũng nhƣ trong tƣơng lai. Sức mạnh và khả năng đó đƣợc thể hiện thông qua số lƣợng, chất lƣợng và cơ cấu dân số, nhất là số lƣợng và chất lƣợng con ngƣời có đủ điều kiện tham gia vào nền sản xuất xã hội”[1,tr.
Các quan điểm trên tiếp cận NNL ở góc độ vĩ mô, còn ở góc độ tổ chức, doanh nghiệp thì lại có những quan điểm về NNL nhƣ: Theo giáo trình Nguồn nhân lực, Đại học Lao động – Xã hội (2009) thì: “NNL của tổ chức là nguồn lực của toàn thể cán bộ, công nhân viên lao động 9 trong tổ chức đó đặt trong mối quan hệ phối kết hợp các nguồn lực riêng của mỗi ngƣời, sự bổ trợ những khác biệt trong nguồn lực của mỗi cá nhân thành nguồn lực của tổ chức. Sức mạnh của tập thể lao động vận dụng vào việc đạt đƣợc những mục tiêu chung của tổ chức, trên cơ sở đó đạt đƣợc những mục tiêu riêng của mỗi thành viên”[4,tr.TS Bùi Văn Nhơn định nghĩa: “Nguồn nhân lực doanh nghiệp là lực lƣợng lao động của từng doanh nghiệp, là số ngƣời trong danh sách của doanh nghiệp, do doanh nghiệp trả lƣơng”[10,tr.72] Theo luận án tiến sĩ (2009) của TS. Lê Thị Mỹ Linh thì: “Nguồn nhân lực của một tổ chức bao gồm tất cả những ngƣời lao động làm việc trong tổ chức đó có sức khoẻ và trình độ khác nhau, họ có thể tạo thành một sức mạnh hoàn thành tốt mục tiêu của tổ chức nếu đƣợc động viên, khuyến khích phù hợp”[9,tr. Qua tham khảo các khái niệm về NNL nêu trên, tác giả đƣa ra khái niệm NNL theo cách hiểu của mình nhƣ sau: “NNL của một tổ chức bao gồm quy mô số lƣợng và chất lƣợng của tập thể ngƣời lao động cùng làm việc trong một tổ chức, nhằm hoàn thành yêu cầu sản xuất kinh doanh của tổ chức đó” 1.
Phát triển nguồn nhân lực Cho đến nay khái niệm về phát triển nguồn nhân lực đƣợc nhiều tổ chức, cá nhân đƣa ra và đƣợc sử dụng rộng rãi. Những khái niệm này đƣợc hình thành và phát triển trên thế giới trong những thập niên 70, dựa trên quan niệm mới về phát triển và vị trí con ngƣời trong sự phát triển. Khi nghiên cứu về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực do có nhiều cách tiếp cận khác nhau nên trong thực tế có các quan niệm khác nhau. Phát triển nguồn nhân lực đơn giản nhất chỉ là việc gia tăng quy mô nguồn nhân lực.
Trong điều kiện công nghệ lạc hậu, ít cạnh tranh và trình độ 10 lao động thấp kém, lợi thế cần tận dụng là nguồn lao động giá rẻ. Doanh thu và lợi nhuận sẽ tăng lên cùng với đà tăng của sản lƣợng. Trong khi, sản lƣợng tỉ lệ thuận với số nhân công đƣợc sử dụng. Khi đó, nguồn nhân lực là một yếu tố đầu vào thông thƣờng trong sản xuất, chi phí cho nó càng thấp càng tốt.
Ở một mức độ cao hơn, phát triển nguồn nhân lực không chỉ đơn thuần là phát triển về mặt số lƣợng, mà còn là phát triển cả về mặt chất lƣợng. Tuy nhiên, phát triển nguồn nhân lực lại đƣợc gắn nhƣ là thành tựu của chức năng đào tạo. Nhắc đến phát triển nguồn nhân lực trong tổ chức là nhắc tới đào tạo, và dƣờng nhƣ chỉ xoay quanh đào tạo. Cho tới gần đây, đã có những nhận thức mới hơn, đầy đủ hơn về phát triển nguồn nhân lực.
Theo Tổ chức Lao động Quốc tế: “Phát triển nguồn nhân lực bao hàm phạm vi rộng hơn, không chỉ là chiếm lĩnh ngành nghề hay vấn đề đào tạo nói chung, mà còn là sự phát triển năng lực và sử dụng năng lực đó vào việc làm có hiệu quả, cũng nhƣ thoả mãn nghề nghiệp và cuộc sống cá nhân”. Theo giáo trình Kinh tế nguồn nhân lực, Đại học Kinh tế Quốc dân (2008) thì: “Phát triển nguồn nhân lực là quá trình phát triển thể lực, trí lực, khả năng nhận thức và tiếp thu kiến thức, tay nghề, tính năng động xã hội và sức sáng tạo của con ngƣời; nền văn hóa; truyền thống lịch sử… Do đó, phát triển nguồn nhân lực đồng nghĩa với nâng cao năng lực xã hội và tính năng động xã hội của nguồn nhân lực về mọi mặt; thể lực, trí lực, nhân cách, đồng thời phân bố, sử dụng và phát huy có hiệu quả nhất năng lực đó để phát triển đất nƣớc.104] Theo giáo trình Quản trị nhân lực Trƣờng Đại học Kinh tế quốc dân xuất bản năm 2004 thì: “Phát triển nguồn nhân lực (theo nghĩa rộng): là tổng thể các hoạt động học tập có tổ chức đƣợc tiến hành trong những khoảng thời 11 gian nhất định để nhằm tạo ra sự thay đổi trong hành vi nghề nghiệp của ngƣời lao động”[2,tr153]. Khái niệm này chƣa nhấn mạnh đến mục tiêu cuối cùng của phát triển nguồn nhân lực là phát triển tổ chức, phát triển cá nhân ngƣời lao động. Theo khái niệm này thì nội dung phát triển nguồn nhân lực bao gồm ba hoạt động là: giáo dục, đào tạo và bồi dƣỡng: Giáo dục: đƣợc hiểu là các hoạt động học tập để chuẩn bị cho con ngƣời bƣớc vào một nghề nghiệp hoặc chuyển sang một nghề mới, thích hợp hơn trong tƣơng lai Đào tạo: đƣợc hiểu là các hoạt động học tập nhằm giúp cho ngƣời lao động có thể thực hiện có hiệu quả hơn chức năng, nhiệm vụ của mình.
Đó chính là quá trình học tập làm cho ngƣời lao động nắm vững hơn về công việc của mình, là những hoạt động học tập để nâng cao trình độ, kỹ năng của ngƣời lao động để thực hiện nhiệm vụ lao động có hiệu quả hơn. Bồi dƣỡng: là các hoạt động học tập vƣợt ra khỏi phạm vi công việc trƣớc mắt của ngƣời lao động, nhằm mở ra cho họ những công việc mới dựa trên cơ sở những định hƣớng tƣơng lai của tổ chức”. Giáo dục và đào tạo, bồi dƣỡng có những điểm chung là đều hƣớng vào việc trang bị kiến thức, kỹ năng và các phẩm chất nhƣ đạo đức, tác phong, kỷ luật lao động v. Nhƣng, đào tạo và bồi dƣỡng nhằm vào việc trang bị thêm và củng cố những năng lực cụ thể để ngƣời lao động đảm nhận những công việc nhất định, do vậy thƣờng có có ý nghĩa hẹp hơn.
Nhƣ vậy, phát triển nguồn nhân lực ở phạm vi hẹp chỉ các hoạt động tạo cơ hội phát triển kỹ năng, năng lực của cá nhân để phát triển nghề nghiệp và sự nghiệp. Phát triển bao gồm cả đào tạo nhƣng liên quan chặt chẽ tới nghề nghiệp, nhiệm vụ trong tƣơng lai của ngƣời lao động trong tổ chức, vì vậy còn bao gồm nhiều hoạt động liên quan nhƣ: thiết kế lại công việc, làm giàu công 12 việc, luân chuyển nhằm nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động của nguồn nhân lực theo chiến lƣợc và mục tiêu đã đƣợc hoạch định. Phát triển nguồn nhân lực ở phạm vi một quốc gia bao gồm 3 khía cạnh về các mặt: thể lực, nâng cao phẩm chất chung của nguồn nhân lực và phát triển về trí lực. Trong đó, phát triển về thể lực và nâng cao phẩm chất chung liên quan đến nhiều chính sách nhƣ: y tế, dinh dƣỡng, giáo dục, xây dựng văn hóa cộng đồng để nâng cao tinh thần đoàn kết, yêu nƣớc của ngƣời dân.
Phát triển về trí lực bao gồm nhiều nội dung nhƣ: giáo dục, đào tạo và bồi dƣỡng để nâng cao chất lƣợng, tức năng lực của nguồn nhân lực. Trong một tổ chức, hoạt động chủ yếu nhất của phát triển nguồn nhân lực đào tạo và bồi dƣỡng. Từ các khía cạnh nghiên cứu của luận văn, khái niệm phát triển nguồn nhân lực đƣợc hiểu nhƣ sau: “ Phát triển nguồn nhân lực là quá trình tạo ra sự thay đổi về số lƣợng, chất lƣợng nâng cao phẩm chất nguồn nhân lực với việc nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội của đất nƣớc, của vùng hay của một tổ chức thông qua việc thực hiện đồng bộ các giải pháp đào tạo phát triển của tổ chức, cá nhân. Các tiêu chí đánh giá phát triển nguồn nhân lực trong doanh nghiệp 1.
Số lượng phù hợp Phát triển về số lƣợng là sự gia tăng về số lƣợng của đội ngũ nhân lực theo hƣớng phù hợp với môi trƣờng và điều kiện hoạt động mới. Đảm bảo số lƣợng nhân lực cho từng bộ phận, đáp ứng đủ số lƣợng theo nhu cầu cần thiết, tránh thừa thiếu nhân lực ở từng bộ phận và toàn bộ tổ chức là thể hiện phát triển nguồn nhân lực. Cơ cấu hợp lý 13 Đảm bảo đủ số lƣợng cơ cấu nhân lực hợp lý là tối đa hóa việc sử dụng nguồn nhân lực và bảo đảm sự phát triển liên tục của nó, bảo đảm có khả năng cần thiết để thực hiện các mục tiêu của doanh nghiệp. Phối hợp các hoạt động về nguồn nhân lực với các mục tiêu của doanh nghiệp và tăng năng suất của doanh nghiệp.