Chương 1: Sơ lược về các tộc người nhóm Nam Đảo ở Tây Nguyên Chương 2: Một số thủ tục liên quan đến việc làm nhà Chương 3: Cấu trúc nhà Phần kết luận khái quát một số đặc điểm tiêu biểu về thủ tục và cấu trúc nhà của các tộc người nhóm Nam Đảo Tây Nguyên và nêu ra những tương đồng và khác biệt về thủ tục và cấu trúc nhà của các tộc người nhóm Nam Đảo ở Tây Nguyên. Như vậy, công trình này hướng vào việc nghiên cứu những đặc trưng nổi bật trong phong tục dựng nhà của các tộc người thuộc nhóm Nam Đảo ở Việt Nam. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1: SƠ LƢỢC VỀ CÁC TỘC NGƢỜI NHÓM NAM ĐẢO Ở TÂY NGUYÊN 1. Đôi nét về nhóm Nam Đảo ở Đông Nam Á Đông Nam Á là một vùng văn hóa giàu có, phong phú và riêng biệt.
Nếu xét theo bản đồ chính trị hiện đại, Đông Nam Á có 11 nước: Myanmar, Thái Lan, Việt Nam, Lào, Campuchia, Malaysia, Singapore, Indonesia, Philippin, Brunei, Đông Timor. Nhưng nếu xét theo bản đồ văn hóa – tộc người, thì khu vực Đông Nam Á rộng hơn. Nó bao gồm vùng Nam Trung Quốc, vùng Đông Bắc Ấn Độ, thậm chí các quần đảo ở Thái Bình Dương, và cả Madagascar, v.v… Đông Nam Á là khu vực có chữ viết muộn, chủ yếu là mượn từ nguồn chữ Hán và các văn tự Ấn Độ. Việc nghiên cứu các ngôn ngữ ở Đông Nam Á chỉ thực sự được bắt đầu từ khi có sự xâm nhập của chủ nghĩa tư bản phương Tây.
Các học giả phương Tây khi nghiên cứu các ngôn ngữ ở Đông Nam Á thường tập trung vào hai nội dung chính là miêu tả các ngôn ngữ cụ thể và biên soạn các sách công cụ. Họ cũng đã sử dụng phương pháp so sánh ngôn ngữ học lịch sử để tìm ra các mối quan hệ thân thuộc giữa các ngôn ngữ. Nhìn chung, sự phân loại các ngôn ngữ ở Đông Nam Á là công việc khó khăn. Hiện nay theo các học giả ở Đông Nam Á có 4 ngữ hệ chủ yếu [19, tr.
Ngữ hệ Nam Á 2. Ngữ hệ Thái 3. Ngữ hệ Nam Đảo (có người gọi là Malayô – Pôlinêdia) 4. Ngữ hệ Hán – Tạng Bắt nguồn từ sự phân chia theo ngữ hệ, các nhà khoa học cũng dùng cách phân chia này để phân loại các tộc người theo các nền văn hóa cơ bản.
Như vậy, nhóm Nam Đảo không chỉ là nhóm của các tộc người nói những ngôn ngữ cùng một ngữ hệ, mà còn là một vùng văn hóa chung. Các tộc người thuộc nhóm Nam Đảo (Austronesian) hay Mã Lai - Đa Đảo (Malayo - Polynesian) tập trung đông nhất ở các nước Philippin, Indonesia, Malaysia, 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com một số ở Campuchia, Việt Nam và Singapore. Nhóm Nam Đảo ở Việt Nam bao gồm 5 tộc người (và 5 ngôn ngữ của các tộc người này): Gia-rai, Ê-đê, Chăm, Ra-glai, Chu- ru. Đại diện cho nhóm Nam Đảo chủ yếu là người Mã Lai.
Những nhóm cư dân ở phía Nam Đông Nam Á do lai tạp với nhiều thành phần cư dân khác nên không điển hình bằng, và do đó, người ta có xu hướng tách riêng họ thành nhóm Nam Đảo (Austronesian). Theo Từ điển Larousse du 20e siècle (Larousse của thế kỷ XX), Nam Đảo chỉ tổng thể những vùng đất của châu Đại Dương, tức là các đảo lớn nằm trên Thái Bình Dương đến phía Nam của Đông Nam Á [16, tr. Đây là khu vực rộng lớn, có rất nhiều đảo, nên có nhiều nét văn hoá rất khác nhau. Về đặc điểm nhân chủng nhóm Nam Đảo (số với các nhóm tộc người khác) có những nét tiêu biểu: - Nước da sẫm hơn; - Pha trộn giống mạnh hơn.
Các tộc người thuộc nhóm Nam Đảo nói một thứ tiếng phân bố rộng rãi từ Madagascar, qua bán đảo Mã Lai, Indonesia cho đến Hawaii. Nhóm ngôn ngữ châu Đại Dương của người Nam Đảo (Austronesian) thường gọi là tiếng Mã Lai – Đa Đảo (Malayo - Polynesian). Tiêu biểu là tiếng Mã Lai, Chăm, Ê-đê, Gia-rai, Đài Loan, Indonesia, Philippines, Micronesia, Melanesia, Polynesia [16, tr. Hai tên gọi Malayo – Polynesian và Austronesian (Nam Đảo) xem như đồng nghĩa.
Ngữ hệ này bao gồm khoảng 200 tiếng nói cụ thể, chủ yếu ở các đảo, trải dài từ Đông Nam Á đến các quần đảo ở châu Đại Dương (thuộc Thái Bình Dương) về phía Đông, và hòn đảo Madagascar ở Đông Nam châu Phi về phía Tây. Những nơi và số người nói tiếng Malayo – Polynesian gồm có: Vùng Số tiếng nói Số người 1. Việt Nam + Campuchia 7 700 000 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Indonesia, Malaysia, Brunei 300 130 000 000 6.
Polynesia 20 700 000 Tổng cộng 770 181 000 000 Nguồn: theo số liệu của Viện Khoa học Xã hội Việt Nam. Ngoài những nước kể trên, còn có những nhóm cư dân khác cũng nói tiếng Malayo – Polynesian như: - Một nhóm nhỏ người nói tiếng Chăm ỏ đảo Hải Nam Trung Quốc; - Những cộng đồng nhỏ ở các vùng tiếp giáp với Thái Lan và Myanma; - Một số vùng trong quần đảo Melanesia: Papua New Guinea, các đảo Solomon, Vanuatu, New Caledonia, Fiji; - Một số vùng trong quần đảo Micronesia: Belau, Guam, Bắc Marianas, Federal State of Micronesia, các đảo Marshall, Kiribati, Nauru; - Một số vùng trong quần đảo Polinesia: Tuvalu, Tongo, Wallis và Futuna, Samoa, Tokelau, Nieu, Hawaii, French Polinesia, Cook Islands, New Zealand, Easter Island; - Và còn những người ngoại lai, cư dân ở ba quần đảo trên hoàn toàn nói tiếng Malayo – Polynesian. Tiếng Indonesia/Malaysia chủ yếu là ngôn ngữ Malayo – Polynesian, nhưng nó có hai vùng nói tiếng khác. Đó là tiếng Aslian thuộc Austro Asiatic (Nam Á) ở nội địa bán đảo Malaysia, và tiếng Papuan trên đảo New Guinea và một số đảo nhỏ ở phía Đông và Tây của nó [16, tr.
Ở Việt Nam và Campuchia, những người nói tiếng Malayo – Polynesian là những nhóm thiểu số nhỏ như người Chăm, Ê-đê, Gia-rai, Ra-glai, Chu-ru nằm giữa những nhóm lớn nói tiếng Việt và tiếng Khmer. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ở Đài Loan, người thổ dân nói tiếng Malayo – Polynesian. Còn cư dân hiện nay chủ yếu là người từ lục địa ra đảo từ 300 năm nay, nhất là từ năm 1949. Nghiên cứu so sánh các nhóm ngôn ngữ Malayo – Polynesian thì thấy: - Tiếng thổ dân Đài Loan còn giữ nhiều âm cổ thấy ở hầu hết các nhóm tiếng Malayo – Polynesian, nên có thể xem là nhóm cổ nhất, có thể gọi là tiếng Austronesian (Nam Đảo) đích thực.
- Ngoài tiếng Đài Loan, các nhóm còn lại có thể gọi chung là Malayo – Polynesian (Mã Lai – Đa Đảo). - Nhóm các ngôn ngữ ở Melanesia, Micronesia và Polynesia trên các quần đảo ở Thái Bình Dương, được Dempwolff nêu ra đầu tiên, nay được gọi chung là tiếng Oceanic (tiếng châu Đại Dương) [16, tr. Những quốc gia mà tiếng nói chính thức là tiếng Malayo – Polynesian là Indonesia, Malaysia, Philippin, Singapore. Ở Malaysia có ba cộng đồng cư dân chính là Mã Lai, Hoa và Ấn (Tamil).
Vì người Mã Lai là tộc người chủ thể lại có nguồn gốc bản địa, nên tiếng Mã Lai được xem là tiếng chính thức của quốc gia. Theo định nghĩa của Malaysia, người Mã Lai là người theo Islam (Hồi giáo) và nói tiếng Mã Lai. Singapore cũng xem tiếng Mã Lai là tiếng nói chính thức của quốc gia, nhưng trên thực tế thì tiếng Anh được sử dụng rộng rãi trong xã hội. Indonesia gồm nhiều cộng đồng cư dân có tiếng nói riêng nhưng đều thuộc về ngữ hệ Malayo – Polynesian.
Các cộng đồng này có lịch sử lâu đời và nền văn hóa riêng như Jawa, Sunda, Batak, Minangkabau, Madura, Bali, v.v… Tiếng Mã Lai ở Indonesia và tiếng Mã Lai ở Malaysia về cơ bản là giống nhau. Sự khác nhau của chúng chủ yếu nằm ở lớp từ vay mượn. Về chữ viết, xưa kia các nước này chịu ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ nên đã vay mượn chữ viết Ấn Độ. Từ thế kỷ XIII – XV, Islam (Hồi giáo) xâm nhập vào các nước ấy nên đã chuyển sang dùng chữ cái Ả rập.
Sang thế kỷ XX, trước ảnh hưởng của văn hóa phương Tây, họ đã sử dụng chữ cái Latinh. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Có những từ Malayo – Polynesian được nhiều ngôn ngữ khác trên thế giới (nhất là ở châu Âu) sử dụng như: Tabou: cấm kỵ, Tatouage: xăm mình, Tamouré: nhảy múa, Monoi tiare: dầu hoa, nước hoa. Nếu căn cứ vào lịch sử thì nhóm ngôn ngữ Nam Đảo được hình thành vào khoảng Thiên niên kỷ II trước Công Nguyên, tại vùng Đông Nam ven biển Quảng Đông, Trung Quốc hiện nay. Do sản xuất phát triển và dân số tăng, họ đã di cư xuống Đông Nam Á nhiều đợt theo hai hướng chính.
Hướng thứ nhất dọc theo bờ biển Trung Quốc và Việt Nam. Người Chăm dừng lại ở đây rồi đến miền Tây Indonexia, từ đó đi về Đông và Đông Bắc đến Philippin và Đà Loan. Hướng thứ hai qua Đài Loan sang Philippin rồi từ đó sang Indonexia qua Đông Dương. Vấn đề địa bàn tụ sinh và con đường thiên đi của các tộc người Nam Đảo là mối lưu tâm của nhiều nhà khoa học lịch sử phương Đông.
Một số nhà ngôn ngữ, bắt đầu là P. Bennedict, nêu lên mối quan hệ ngôn ngữ giữa Tày – Thái và Indonexia thông qua nhóm Kađai, sau đó đưa ra khái niệm Nam Thái (Austro – Thái) đã góp phần giúp các nhà khoa học lịch sử, dân tộc học tìm kiếm nơi tụ sinh của các cư dân Nam Đảo ở miền Đông Nam Trung Hoa, thuộc khu vực phía Nam sông Dương Tử, vùng nước Việt thời Xuân Thu (VII – V trước CN) và Ngô, Việt thời Chiến Quốc (V – II trước CN). Heine Gelbern là người đầu tiên đưa ra giả thuyết này vào năm 1923 [37, tr. Ông dựa vào sự phân bố của chiếc rìu đá mài tứ diện vốn xuất hiện từ lục địa ven biển Đông – Nam Trung Hoa, sau lan xuống phương Nam bằng hai con đường: đường thủy và đường bộ xuống Đông Nam Á.
Tchebocxarov, Mongoloid từ phương Bắc xuống hỗn thuyết cùng người Australoid cư trú từ trước, đã tạo nên tổ tiên người Mã Lai – Đa Đảo được đa số giới khoa học chấp nhận, một phần cũng nhờ những cư liện ngôn ngữ học, lịch sử cổ đại Trung Hoa [41, tr. Gần đây, nhà khoa học W. Solheim II đưa ra một quan điểm khác, đó là coi các tộc người Nam Đảo xuất phát từ khu vực quần đảo Đông Nam Á rồi tỏa ra khu 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vực Đông Nam Á – Thái Bình Dương, tới tận châu Đại Dương và miền Nam Trung Hoa [40, tr.