Tổng quan nghiên cứu

Trong chiến lược phát triển kinh tế giai đoạn 2011 - 2020, tỉnh Bắc Ninh đặt mục tiêu duy trì tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm nội địa (GDP) bình quân từ 13% đến 14% mỗi năm, phấn đấu đạt thu nhập bình quân đầu người 3.500 USD vào năm 2015. Tuy nhiên, tính đến năm 2012, toàn tỉnh chỉ có khoảng 45% lực lượng lao động qua đào tạo, tạo ra khoảng cách lớn so với chỉ tiêu 60% đề ra cho năm 2015. Vấn đề cốt lõi của nghiên cứu là sự mất cân đối giữa tốc độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa mạnh mẽ với chất lượng thực tế của đội ngũ nhân lực tại địa phương, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ các ngành công nghệ cao và làng nghề truyền thống.

Mục tiêu cụ thể của luận văn là hệ thống hóa cơ sở lý luận về nguồn nhân lực chất lượng cao dưới lăng kính triết học duy vật lịch sử, phân tích thực trạng phát triển nhân lực tại Bắc Ninh từ năm 2000 đến năm 2012, và đề xuất các giải pháp chiến lược nhằm tạo bước chuyển biến về chất lượng lao động đến năm 2020.

Phạm vi nghiên cứu tập trung vào nguồn nhân lực chất lượng cao trên địa bàn 8 huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh Bắc Ninh trong khung thời gian từ năm 2000 đến năm 2013. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của công trình thể hiện ở việc cung cấp luận cứ lý luận và số liệu xác thực giúp các cấp ủy, chính quyền địa phương hoàn thiện chính sách giáo dục nghề nghiệp, nâng cao tỷ lệ lao động kỹ thuật lên mức 60%, qua đó bảo đảm năng lực cạnh tranh và phát triển kinh tế bền vững cho một trong 8 tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về vai trò quyết định của nhân tố con người trong lực lượng sản xuất, coi người lao động là chủ thể sáng tạo trực tiếp biến tri thức khoa học thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Đồng thời, nghiên cứu kế thừa lý thuyết vốn con người của các nhà kinh tế học hiện đại và khung phát triển nguồn nhân lực bền vững của các tổ chức quốc tế. Cụ thể, nghiên cứu tiếp cận 4 trụ cột giáo dục của UNESCO bao gồm: học để biết, học để làm, học để chung sống và học để tồn tại, coi đây là kim chỉ nam cho công tác đào tạo nguồn lực nội sinh.

Nghiên cứu làm rõ 5 khái niệm nòng cốt: nguồn lực, nguồn nhân lực, nguồn nhân lực chất lượng cao, công nghiệp hóa - hiện đại hóa và kinh tế tri thức. Nguồn nhân lực chất lượng cao được xác định là bộ phận tinh túy của lực lượng lao động, sở hữu trình độ học vấn, chuyên môn và kỹ năng thực hành vượt trội. Cấu trúc nguồn nhân lực chất lượng cao được phân định thành 6 nhóm chủ thể chính:

  • Đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý nhà nước và hoạch định chính sách.
  • Đội ngũ trí thức khoa học và công nghệ giữ vai trò hạt nhân sáng tạo.
  • Đội ngũ công nhân kỹ thuật lành nghề và công nhân trí thức trong các ngành sản xuất.
  • Đội ngũ nghệ nhân tài hoa tại các làng nghề truyền thống.
  • Đội ngũ nông dân sản xuất kinh doanh giỏi, ứng dụng công nghệ sinh học.
  • Tầng lớp doanh nhân năng động, có đạo đức nghề nghiệp và trách nhiệm xã hội.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để phân tích mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng kinh tế và chất lượng nguồn nhân lực. Bên cạnh đó, tác giả kết hợp các phương pháp nghiên cứu liên ngành như phân tích định tính, tổng hợp tài liệu, thống kê kinh tế - xã hội và so sánh đối chiếu.

Nguồn dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ các văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lần thứ XVII và XVIII, báo cáo thống kê của Tổng cục Thống kê, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Bắc Ninh cùng số liệu khảo sát tại 63 làng nghề và 311 trang trại nông nghiệp trên địa bàn tỉnh. Phương pháp chọn mẫu phân tầng theo nhóm ngành nghề và khu vực hành chính được ưu tiên lựa chọn nhằm bảo đảm tính đại diện cao cho toàn bộ bức tranh nhân lực của tỉnh. Lý do lựa chọn hệ thống phương pháp này là nhằm bảo đảm tính khách quan, đa chiều, kết nối chặt chẽ giữa nguyên lý triết học trừu tượng với các số liệu thực chứng kinh tế trong giai đoạn 2000 - 2013.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cơ cấu kinh tế Bắc Ninh chuyển dịch tích cực nhưng chất lượng nhân lực chuyển biến chậm. Giá trị sản xuất nông nghiệp tăng từ 940 tỷ đồng năm 2000 lên 2.712 tỷ đồng năm 2012, chứng minh bước tiến của việc ứng dụng kỹ thuật. Tuy nhiên, trong 311 trang trại đạt tiêu chí kinh tế năm 2011, có tới 85,5% là trang trại chăn nuôi, còn các mô hình trồng trọt công nghệ cao đạt doanh thu trên 100 triệu đồng mỗi năm hầu như chưa phát triển đồng đều do thiếu kỹ sư và chuyên gia nông nghiệp chất lượng cao.

Thứ hai, khu vực tiểu thủ công nghiệp và làng nghề giữ vai trò kinh tế trụ cột nhưng đang đối mặt với nguy cơ thiếu hụt thợ bậc cao. Toàn tỉnh có 63 làng nghề với 42 ngành nghề, tạo ra 70% đến 75% giá trị sản xuất ngoài quốc doanh và đóng góp 35% đến 40% tổng giá trị công nghiệp toàn tỉnh. Dù vậy, phần lớn cơ sở sản xuất tại các làng nghề nổi tiếng như Đồng Kỵ, Phù Lãng, Đại Bái vẫn hoạt động ở quy mô nhỏ lẻ, thiếu hụt đội ngũ nghệ nhân trẻ kế cận có trình độ thiết kế mỹ thuật công nghiệp và năng lực thương mại quốc tế.

Thứ ba, cơ cấu đào tạo lao động của tỉnh bộc lộ sự mất cân đối nghiêm trọng. Mặc dù lực lượng lao động trẻ dưới 45 tuổi chiếm gần 52% dân số vào năm 2012, tỷ lệ lao động có chứng chỉ chuyên môn kỹ thuật vẫn ở mức thấp. Tình trạng này phản ánh đúng bức tranh chung của cả nước khi cơ cấu đào tạo giữa trình độ đại học, trung học chuyên nghiệp và công nhân kỹ thuật là 1 : 1,3 : 0,92, trong khi tỷ lệ chuẩn mực của thế giới là 1 : 4 : 10. Sự thiếu hụt công nhân kỹ thuật bậc cao làm giảm năng lực hấp thụ công nghệ tiên tiến tại các khu công nghiệp tập trung.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính của những hạn chế trên bắt nguồn từ sự thiếu đồng bộ giữa quy hoạch giáo dục đào tạo với chiến lược chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh. Công tác phân luồng học sinh sau trung học cơ sở và trung học phổ thông chưa đạt hiệu quả cao, dẫn đến tâm lý chuộng bằng cấp học thuật hơn học nghề kỹ thuật. Khi so sánh với chuẩn mực quốc tế theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, chất lượng nhân lực Việt Nam chỉ đạt 3,79 điểm trên thang điểm 10, thấp hơn nhiều so với Hàn Quốc 6,91 điểm hay Malaysia 5,59 điểm.

Dữ liệu nghiên cứu về sự tương quan giữa tăng trưởng kinh tế và cơ cấu lao động tại Bắc Ninh có thể được trực quan hóa hiệu quả thông qua biểu đồ cột thể hiện đà tăng trưởng giá trị sản xuất nông nghiệp từ 940 tỷ đồng lên 2.712 tỷ đồng, kết hợp với biểu đồ hình quạt mô tả cơ cấu 63 làng nghề và tỷ trọng 85,5% của trang trại chăn nuôi. Các dữ liệu này minh chứng rằng nếu không có sự đột phá về chất xám và kỹ năng quản lý, năng suất lao động xã hội của địa phương sẽ nhanh chóng chạm ngưỡng giới hạn.

Đề xuất và khuyến nghị

  • Đổi mới và mở rộng quy hoạch mạng lưới các cơ sở giáo dục nghề nghiệp: Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh và Sở Lao động - Thương binh và Xã hội cần tiến hành sắp xếp lại hệ thống trường cao đẳng, trung cấp nghề; tăng tỷ lệ ngân sách đầu tư trang thiết bị dạy học hiện đại lên tối thiểu 20% mỗi năm; bảo đảm mục tiêu nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 60% vào năm 2015 và 70% vào năm 2020.
  • Ban hành chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài và chuyên gia khoa học công nghệ: Sở Nội vụ phối hợp với các sở, ban ngành xây dựng cơ chế đãi ngộ đặc thù về nhà ở, phụ cấp thu nhập và môi trường nghiên cứu nhằm gia tăng 25% số lượng kỹ sư trưởng, chuyên gia công nghệ cao làm việc tại các khu công nghiệp trọng điểm trong giai đoạn 2013 - 2018.
  • Thiết lập mô hình hợp tác ba bên giữa Nhà nước, Cơ sở đào tạo và Doanh nghiệp FDI: Ban Quản lý các Khu công nghiệp tỉnh Bắc Ninh chủ trì ký kết các chương trình đào tạo theo đơn đặt hàng với các tập đoàn công nghiệp lớn; phấn đấu đạt 80% sinh viên tốt nghiệp trường nghề tại địa phương có việc làm ngay đúng chuyên ngành kỹ thuật từ năm 2015 trở đi.
  • Bảo tồn và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao tại 63 làng nghề truyền thống: Sở Công Thương phối hợp với Hiệp hội Làng nghề triển khai chương trình phong tặng, hỗ trợ tài chính và mở lớp truyền dạy kỹ xảo cho các nghệ nhân; mục tiêu 100% làng nghề trọng điểm có nghệ nhân nòng cốt tham gia hướng dẫn kỹ thuật và thiết kế sản phẩm sạch xuất khẩu trong giai đoạn 2014 - 2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cán bộ lãnh đạo và chuyên viên hoạch định chính sách tại Bắc Ninh: Báo cáo cung cấp cơ sở dữ liệu thực tiễn và định hướng chiến lược giúp Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân xây dựng các nghị quyết phát triển nhân lực và an sinh xã hội phù hợp với lộ trình đô thị hóa.
  • Ban Quản lý các Khu công nghiệp và doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh: Tài liệu hỗ trợ các nhà quản trị doanh nghiệp xây dựng kế hoạch tuyển dụng, bồi dưỡng kỹ năng cho công nhân kỹ thuật và tối ưu hóa chi phí đào tạo nội bộ theo đặc thù nguồn cung lao động địa phương.
  • Giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên ngành Triết học, Quản trị nhân lực: Luận văn là tài liệu tham khảo học thuật chuyên sâu về phương pháp vận dụng lý luận triết học duy vật lịch sử vào giải quyết các bài toán kinh tế - xã hội cụ thể tại một địa phương công nghiệp trọng điểm.
  • Lãnh đạo các trường đại học, cao đẳng và cơ sở đào tạo nghề: Cung cấp góc nhìn thực tế về nhu cầu của thị trường lao động, giúp nhà trường điều chỉnh chương trình giảng dạy, cơ cấu ngành nghề và nâng cao tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp có tay nghề cao.

Câu hỏi thường gặp

Nguồn nhân lực chất lượng cao theo tiếp cận của luận văn gồm những ai?

Theo nghiên cứu, nguồn nhân lực chất lượng cao bao gồm 6 bộ phận nòng cốt: cán bộ lãnh đạo quản lý, đội ngũ trí thức khoa học công nghệ, công nhân kỹ thuật lành nghề, nghệ nhân làng nghề, nông dân sản xuất kinh doanh giỏi ứng dụng công nghệ và tầng lớp doanh nhân. Mỗi bộ phận đóng vai trò mắt xích trong việc nâng cao năng suất xã hội.

Tại sao Bắc Ninh cần ưu tiên phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao giai đoạn này?

Bắc Ninh nằm trong 8 tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ với mục tiêu tăng trưởng GDP từ 13% đến 14% mỗi năm. Tỉnh đang chuyển dịch mạnh mẽ sang công nghiệp công nghệ cao, đòi hỏi phải nhanh chóng nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo từ 45% năm 2012 lên 60% năm 2015 để tránh bẫy lao động giá rẻ.

Thực trạng phát triển nhân lực tại các làng nghề truyền thống Bắc Ninh có đặc điểm gì?

Toàn tỉnh có 63 làng nghề tạo ra hơn 35% giá trị công nghiệp của tỉnh. Tuy nhiên, nhân lực tại đây chủ yếu truyền nghề theo kinh nghiệm gia đình, thiếu hụt nghệ nhân trẻ được đào tạo bài bản về quản trị, công nghệ vật liệu mới và thương mại điện tử, làm giảm khả năng cạnh tranh xuất khẩu.

Tỷ lệ đào tạo lao động tại Bắc Ninh có điểm gì bất cập so với yêu cầu công nghiệp hóa?

Cơ cấu đào tạo của lao động kỹ thuật còn mất cân đối giữa các bậc học, rơi vào tình trạng thừa thầy thiếu thợ. Tỷ lệ lao động qua đào tạo năm 2012 mới đạt 45%, phần lớn lực lượng lao động trẻ dưới 45 tuổi chưa được trang bị chứng chỉ tay nghề bậc cao để vận hành dây chuyền tự động hóa.

Các giải pháp đột phá nào được đề xuất để nâng cao chất lượng lao động của tỉnh?

Luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm: hoàn thiện quy hoạch cơ sở dạy nghề, ban hành chính sách đãi ngộ thu hút chuyên gia kỹ thuật, đẩy mạnh liên kết đào tạo theo đơn đặt hàng của doanh nghiệp FDI và xây dựng cơ chế bảo tồn tay nghề nghệ nhân tại các làng nghề truyền thống.

Kết luận

  • Luận văn đã làm sáng tỏ cơ sở triết học và thực tiễn về tính tất yếu của việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa tại tỉnh Bắc Ninh.
  • Phân tích toàn diện thực trạng phát triển kinh tế cho thấy mức tăng trưởng giá trị nông nghiệp đạt 2.712 tỷ đồng năm 2012 và vai trò đóng góp hơn 70% giá trị sản xuất ngoài quốc doanh của 63 làng nghề truyền thống.
  • Chỉ rõ điểm nghẽn lớn nhất của địa phương là tỷ lệ lao động qua đào tạo mới đạt 45% vào năm 2012, đặt ra yêu cầu cấp bách phải tái cấu trúc hệ thống đào tạo kỹ thuật.
  • Đóng góp hệ thống 4 nhóm giải pháp khả thi, gắn kết chặt chẽ giữa chính quyền, nhà trường và doanh nghiệp để đạt mục tiêu 60% lao động qua đào tạo vào năm 2015.
  • Xác định lộ trình triển khai chính sách nhân lực từ năm 2013 đến năm 2020 nhằm tạo nền tảng vững chắc đưa Bắc Ninh sớm trở thành thành phố trực thuộc Trung ương. Các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và doanh nghiệp hãy khai thác những luận cứ khoa học từ công trình này để hiện thực hóa chiến lược nâng tầm nhân lực địa phương ngay hôm nay.