Chương 1 NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ Ở TỈNH BẮC NINH HIỆN NAY 1. Nguồn nhân lực chất lượng cao 1. Khái niệm nguồn nhân lực chất lượng cao Việt Nam đang trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, và ngày nay trong công cuộc hội nhập và phát triển đất nước nhằm mục tiêu “dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và v n minh”, Đảng ta luôn xác đ nh: Việt Nam có nguồn lao động dồi dào, có truyền thống yêu nước, cần c , sáng tạo, có nền tảng v n hoá, giáo dục, có khả n ng nắm bắt nhanh khoa học và công nghệ. Đó chính là nguồn lực quan trọng nhất - nguồn lực nội sinh.
Vậy nguồn lực là gì? Hiện nay chưa có tài liệu chính thức nào đưa ra đ nh ngh a và khái niệm nguồn lực mà chỉ đưa ra quan niệm dưới dạng tổng quát, “nguồn lực” là toàn bộ các yếu tố cả vật chất lẫn tinh thần đã, đang và sẽ tạo ra sức mạnh góp phần th c đ y cho sự t ng trưởng và phát triển kinh tế - xã hội và chính tr của quốc gia đó. Hay nguồn lực được hiểu là tổng thể v trí, các nguồn tài nguyên thiên nhiên, hệ thống tài sản quốc gia, nguồn nhân lực, đường, lối chính sách, vốn và th trường. ở cả trong nước và nước ngoài có thể được khai thác nhằm phục vụ cho phát triển kinh tế ở một lãnh thổ nhất đ nh. Như vậy, khi nói đến nguồn lực không chỉ nói đến sức mạnh, n ng lực đã được bộc lộ và đang phát huy tác dụng, mà cả những sức mạnh, n ng lực tồn tại dưới dạng tiềm n, tiếp tục nảy sinh và sẽ được khơi dậy, khai thác, sử dụng trong quá trình phát triển khi gặp điều kiện thuận lợi.
Cách phân loại nguồn lực phụ thuộc vào các tiêu chí và xem xét ch ng trong các quan hệ xác 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đ nh, có thể phân chia nguồn lực thành: Nguồn lực vật chất, nguồn lực tinh thần, nguồn lực kinh tế, nguồn lực v n hoá, nguồn lực trong nước hay nguồn lực nước ngoài. Nhìn chung cho đến nay chủ yếu người ta phân nguồn lực thành: Nguồn nhân lực nguồn lực con người , nguồn lực tài nguyên thiên nhiên, nguồn lực tài chính, nguồn lực khoa học công nghệ. trong đó, nguồn lực con người là quan trọng nhất, là nhân tố chủ động, có khả n ng đ nh hướng và gắn kết các nguồn lực khác vì mục tiêu phát triển đất nước. Nguồn lực con người hay nguồn nhân lực là khái niệm được hình thành trong trong quá trình nghiên cứu, xem xét con người với tư cách là một nguồn lực, là động lực cho sự phát triển.
Cho đến nay, có nhiều quan niệm khác nhau về nguồn nhân lực. Trong lý luận mác xít về lực lượng sản xuất, con người được coi là yếu tố quan trọng nhất, quyết đ nh sự vận động và phát triển của lực lượng sản xuất và do đó quyết đ nh t ng n ng suất lao động và tiến bộ xã hội. Trong lý thuyết về t ng trưởng kinh tế, con người được nhìn nhận như một phương tiện chủ yếu bảo đảm tốc độ t ng trưởng. Bản thân nguồn lực con người tự nó đã là một nguồn lực để t ng trưởng và phát triển kinh tế.
Đồng thời nguồn lực con người là nguồn lực duy nhất để khai thác và sử dụng các nguồn lực khác. Trong thời đại ngày nay khi khoa học công nghệ đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, thì vai trò của nguồn lực con người ngày càng rõ nét và quan trọng hơn. Nguồn lực con người góp phần th c đ y t ng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội. Theo Liên Hợp Quốc thì: Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, k n ng, kinh nghiệm, n ng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước.
Quan niệm này xem xét nguồn lực của con người chủ yếu ở phương diện chất lượng con người và vai trò, sức mạnh của nó đối với sự phát triển của xã hội. Chính vì vậy, Liên Hợp Quốc đã kêu gọi các quốc gia quan tâm hơn nữa tới nguồn nhân lực bởi việc tập 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trung phát triển con người sẽ đem lại tốc độ phát triển cao hơn, ổn đ nh hơn và công bằng hơn trong phân phối lợi ích của sự phát triển. Theo Tổ chức Lao động quốc tế thì nguồn nhân lực của một quốc gia là toàn bộ những người trong độ tuổi có khả n ng tham gia lao động. Nguồn nhân lực được hiểu theo hai ngh a: Theo ngh a rộng, nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con người cho sự phát triển.
Do đó, nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có cơ thể phát triển bình thường. Theo ngh a hẹp, nguồn nhân lực là khả n ng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả n ng tham gia vào lao động, sản xuất xã hội, tức là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào lao động, là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực của họ được huy động vào quá trình lao động. Theo ý kiến của một số nhà khoa học tham gia chương trình khoa học công nghệ cấp nhà nước: “Con người Việt Nam - mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội” mang mã số KX - 07 do GS. Phạm Minh Hạc làm chủ nhiệm cho rằng: “Nguồn nhân lực nguồn lực con người là tổng thể các tiềm n ng lao động của một nước hay một đ a phương, tức là nguồn lao động được chu n b ở các mức độ khác nhau sẵn sàng tham gia vào công cuộc nào đó, tức là những người lao động có khả n ng hay khả n ng nói chung bằng con đường lao động đáp ứng được yêu cầu của chuyển đổi cơ cấu lao động, chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá” [26, tr.TS Phạm Công Nhất đưa ra quan niệm: “Nhân tố con người là tổng thể các yếu tố có liên quan đến con người, là sự thống nhất biện chứng giữa các mặt chủ quan và khách quan để tạo nên n ng lực, ph m chất và trí tuệ của con người được hình thành và phát huy tác dụng vào trong thực tiễn 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sản xuất vật chất hay quá trình phát triển kinh tế - xã hội của mỗi cộng đồng, quốc gia trong những giai đoạn l ch sử nhất đ nh” [45, tr.
V n kiện Hội ngh lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương Đảng Khoá VIII khẳng đ nh: “Nguồn lực con người là người lao động có trí tuệ cao, tay nghề thành thạo, có ph m chất tốt, được đào tạo, bồi dưỡng, phát huy bởi nền giáo dục tiên tiến, gắn liền với một nền khoa học, công nghệ hiện đại” [18, tr. Cũng bàn về vấn đề này PGS.TS Đoàn V n Khái cho rằng, khái niệm “nguồn nhân lực” ngoài ngh a rộng được hiểu như “nguồn lực con người” còn được hiểu theo ngh a hẹp là nguồn lao động, có khi được hiểu là lực lượng lao động. Nguồn lực con người là khái niệm chỉ dân số, cơ cấu dân số và nhất là chất lượng con người với tất cả đặc điểm và sức mạnh của nó trong sự phát triển của xã hội” [32, tr. Từ những quan niệm nêu trên có thể thấy rằng: Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về nguồn nhân lực từ đó xuất hiện nhiều quan niệm khác nhau về nguồn nhân lực.
Tuy nhiên các quan điểm này điều có điểm thống nhất với nhau đó là: Các tác giả đều xem nguồn nhân lực là tổng thể những tiềm n ng và n ng lực của con người được huy động vào trong quá trình sản xuất, lao động và phát triển của mỗi quốc gia hay cộng đồng sở hữu nó. Như vậy, với góc độ nghiên cứu của đề tài có thể hiểu: Nguồn nhân lực là tổng thể những yếu tố thuộc về thể chất, tinh thần, đạo đức, ph m chất, trình độ tri thức, v thế xã hội. tạo thành n ng lực của con người và của cộng đồng người. N ng lực đó khi được sử dụng, phát huy sẽ góp phần th c đ y sự phát triển của xã hội.
Từ sự phân tích và làm rõ quan niệm về nguồn nhân lực, ch ng ta cũng có thể hiểu một cách cơ bản rằng: Nguồn nhân lực chất lượng cao đó là bộ phận ưu việt của nguồn nhân lực. Nói cách khác, nguồn nhân lực chất lượng cao là một bộ phận lao động có chất lượng cao hơn trong nguồn nhân lực nói 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Ở mỗi giai đoạn, mỗi thời k l ch sử cũng có những quan niệm khác nhau về nguồn nhân lực này. Vào thời k của C.Ăngghen thuật ngữ nguồn nhân lực chất lượng cao chưa được sử dụng, nhưng khi khẳng đ nh tính vượt trội và ưu thế của loại lao động trình độ cao so với lao động giản đơn, C.Mác viết: “Lao động phức tạp là lao động giản đơn được nâng lên lu thừa, hay nói đ ng hơn là lao động giản đơn được nâng lên” [42, tr.
Từ đầu thế kỷ XIX, C.Mác đã chỉ ra, chính hoạt động sáng tạo của con người đã làm cho khoa học ra đời, phát triển mạnh mẽ và khoa học sẽ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp và các loai lao động phức tạp, trí tuệ, lao động quản lý sẽ có xu hướng ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong giá tr sản ph m. Ngày nay, nhận đ nh này của C.Mác đã trở thành hiện thực với việc ứng dụng rộng rãi những thành tựu của khoa học k thuật, công nghệ hiện đại vào quá trình sản xuất xã hội đã tạo ra n ng suất lao động t ng gấp bội và làm ra t ng giá tr những tri thức trong sản ph m, đồng thời làm gia t ng giá thành của sản ph m.