Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Chương 2: Thực trạng đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Hà Tây. Chương 3: Phương hướng và giải pháp cơ bản thúc đẩy việc đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá thời gian tới ở Hà Tây Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ ĐÀO TẠO VÀ SỬ DỤNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ ĐẤT NƢỚC 1.1 Công nghiệp hoá, hiện đại hoá với vấn đề đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực I.1 Một số khái niệm cơ bản 1. Công nghiệp hoá, hiện đại hoá Công nghiệp hoá, là một quá trình tất yếu của lịch sử phát triển xã hội.
Các nước công nghiệp trên thế giới đều đã trải qua quá trình CNH ở những thời điểm khác nhau với qui mô, tốc độ khác khác nhau, trong những điều kiện lịch sử KT - XH khác nhau. Xét về mặt lịch sử thì CNH là quá trình diễn ra trước HĐH, nhưng trong thời đại ngày nay luôn có sự đan xen, tác động qua lại lẫn nhau, hai quá trình này không hoàn toàn đồng nhất với nhau. Về mặt thuật ngữ cho thấy HĐH là làm thay đổi trạng thái kỹ thuật - công nghệ và kinh tế đạt trình độ của thời đại ngày nay Nói cách khác, HĐH nền kinh tế quốc dân là làm cho kỹ thuật và công nghệ sản xuất cũng như cơ cấu kinh tế của đất nước đạt được ngang với trình độ của thời đại, đây chính là khía cạnh kinh tế - kỹ thuật của HĐH. Tuy nhiên, HĐH không phải chỉ như vậy mà còn bao hàm cả khía cạnh xã hội, gắn với quá trình xây dựng một xã hội văn 5 z minh.
Như vậy, quá trình kinh tế - kỹ thuật và quá trình KT - XH có quan hệ biện chứng với nhau. Quá trình kinh tế kỹ thuật tạo điều kiện vật chất cho việc thực hiện nội dung của quá trình KT - XH và đến lượt mình quá trình KT - XH lại góp phần tạo nên động lực cho việc thực hiện quá trình kinh tế kỹ thuật. Sự phát triển CNH hiểu theo nghĩa đầy đủ hơn còn là quá trình xây dựng và phát triển văn hoá trong đó phát triển con người và nguồn lực con người là nội dung cốt lõi. Ở nước ta, một nước tiến hành CNH sau, nên CNH phải gắn liền với HĐH, bởi lẽ trong thời đại ngày nay nhân loại đã trải qua hai cuộc cách mạng kỹ thuật: cuộc cách mạng công nghiệp và hiện nay là cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại.
Cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại này đã dẫn tới sự thay đổi về chất kỹ thuật và công nghệ sản xuất. Là nước tiến hành công nghiệp sau nên chúng ta không thể thực hiện theo mô hình CNH phát triển theo kiểu tuần tự như các nước đi trước, nghĩa là tiến hành với nội dung căn bản là cơ khí hoá các ngành của nền kinh tế rồi mới tiến hành HĐH. Vả lại khi thực hiện cơ khí hoá cũng không thể sử dụng máy móc được sản xuất trước đây mà phải sử dụng kỹ thuật và công nghệ sản xuất tiên tiến. Với ý nghĩa trên Hội nghị lần thứ 7 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII và Đại hội Đảng lần thứ IX, nhấn mạnh về con đường CNH rút ngắn đáng kể về thời gian, vừa có bước đi tuần tự vừa có bước nhảy vọt, muốn vậy CNH phải gắn liền với HĐH.
Đảng ta quan niệm CNH, HĐH là: "Quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ và quản lý KT - XH từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ và phương tiện, phương pháp tiên tiến hiện đại dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học công nghệ tạo ra năng suất lao động xã hội cao" [14, tr. 6 z Thực chất CNH, HĐH ở nước ta là quá trình xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật dựa trên công nghệ, phương tiện và phương pháp sản xuất tiên tiến hiện đại, yếu tố vật chất cơ bản của lực lượng sản xuất cho CNXH nhằm đạt năng suất lao động xã hội cao. Tuy nhiên, đây không chỉ là quá trình tăng thêm một cách giản đơn về tốc độ và tỷ trọng của sản xuất công nghiệp trong nền kinh tế mà còn là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn với việc thường xuyên đổi mới công nghệ tạo nền tảng cho sự tăng trưởng bền vững hiệu quả cao theo định hướng XHCN trong tất cả các ngành, các vùng và các thành phần kinh tế của nền kinh tế quốc dân. Nguồn nhân lực Nguồn nhân lực là khái niệm được hình thành khi nghiên cứu về vai trò của yếu tố con người trong sự phát triển KT - XH.
Nguồn nhân lực được đề cập trên nhiều góc độ khác nhau: - Theo lý thuyết phát triển, NNL được hiểu theo nghĩa rộng là nguồn lực của một quốc gia, một vùng lãnh thổ, là một bộ phận cấu thành của các nguồn lực, là lực lượng lao động của một quốc gia có thể huy động để tham gia vào quá trình phát triển KT - XH, đó là bộ phận dân số trong độ tuổi qui định có khả năng tham gia lao động. - Trong lý luận về vốn, con người được đề cập đến như một loại vốn (vốn người "Tư bản người"), một thành tố cơ bản của quá trình sản xuất, kinh doanh. Ngoài ra lý luận về vốn người còn xem xét con người từ quan điểm về nhu cầu, về các nguồn cho sự phát triển của nó. Đầu tư cho con người được phân tích tương tự đầu tư vào các nguồn lực vật chất có tính đến tổng hiệu quả của các đầu tư này hoặc thu nhập mà con người và xã hội thu được từ các đầu tư đó.
Cách tiếp cận này được áp dụng một cách phổ biến ở các nước hiện nay. Theo cách tiếp cận này Ngân hàng thế giới cho rằng: NNL là toàn bộ vốn người (thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp) mà mỗi cá nhân sở hữu. Ở đây 7 z con người được coi như là một nguồn vốn bên cạnh các loại vốn vật chất khác như: vốn bằng tiền, công nghệ, tài nguyên. Việc đầu tư cho con người giữ vị trí trung tâm trong các loại đầu tư và là cơ sở vững chắc cho sự phát triển bền vững.
Do đó NNL là nguồn vốn đặc biệt, nhất là trong giai đoạn phát triển của kinh tế tri thức gắn với đặc trưng của lao động trí tuệ. - Theo quan niệm của các nhà khoa học Việt Nam thể hiện trong Chương trình cấp nhà nước KX - 07, NNL được hiểu là "số dân và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khoẻ và trí tuệ, năng lực phẩm chất, thái độ, phong cách làm việc" [24, tr. Như vậy, nguồn nhân lực được biểu hiện trên hai mặt số lượng và chất lượng. - Về số lượng: nguồn nhân lực phụ thuộc vào thời gian làm việc có thể có được của cá nhân và qui định độ tuổi lao động của mỗi quốc gia.
Ở Việt Nam hiện nay, Luật Lao động qui định độ tuổi lao động đối với nam từ 15 - 60, đối với nữ từ 15 - 55. Số lượng NNL đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển KT - XH. Nếu số lượng không tương xứng với sự phát triển (thừa hoặc thiếu) thì sẽ ảnh hưởng không tốt đến quá trình CNH, HĐH. Nếu thừa sẽ dẫn đến thất nghiệp, tạo gánh nặng về mặt xã hội cho nền kinh tế; nếu thiếu thì không có đủ lực lượng nhân lực cho quá trình CNH, HĐH và phát triển kinh tế đất nước.
- Về chất lượng, nguồn nhân lực được biểu hiện ở thể lực, trí lực, tinh thần thái độ, động cơ, ý thức lao động, văn hoá lao động công nghiệp, phẩm chất tốt đẹp của người công dân đó là yêu nước, yêu CNXH. Trong ba mặt: thể lực, trí lực, tinh thần thì thể lực là nền tảng, cơ sở để phát triển trí lực, là phương thức để chuyển tải khoa học kỹ thuật vào thực tiễn. Ý thức tinh thần đạo đức tác phong là yếu tố chi phối hiệu quả hoạt động chuyển hoá của trí lực thành thực tiễn. Trí tuệ là yếu tố có vai trò quan trọng hàng đầu của NNL 8 z bởi có nó con người mới có thể nghiên cứu sáng tạo và ứng dụng tiến bộ khoa học vào quá trình hoạt động sản xuất và cải biến xã hội.
Mác và Ăng ghen đã nói "Tất cả cái gì thúc đẩy con người hành động đều tất nhiên phải thông qua đầu óc của họ" [32, tr. Từ những phân tích trên cho thấy: nguồn nhân lực là tổng hợp những con người cụ thể có khả năng tham gia vào quá trình lao động với tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực, tâm lực. Với cách hiểu này, NNL bao gồm những người trong độ tuổi lao động có khả năng tham gia vào nền sản xuất xã hội theo Luật lao động quy định. Đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực * Đào tạo nguồn nhân lực: Sự xuất hiện của nền kinh tế tri thức trong thời đại ngày nay cho thấy đầu tư cho NNL được coi trọng hơn các nguồn đầu tư khác.
Đầu tư phát triển NNL được hiểu ở cả ba mặt: chăm sóc sức khoẻ, nâng cao chất lượng cuộc sống và giáo dục đào tạo, trong đó giáo dục đào tạo có vai trò quan trọng nhất. Khái niệm giáo dục luôn gắn với khái niệm đào tạo và nhiều khi bao gồm cả khái niệm đào tạo. Theo từ điển tiếng Việt, đào tạo được hiểu là: "Đào tạo, quá trình tác động đến một con người nhằm làm cho người đó lĩnh hội và nắm những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo. một cách có hệ thống nhằm chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận một sự phân công lao động nhất định góp phần của mình vào việc phát triển xã hội, duy trì và phát triển nền văn minh loài người.
Tuỳ theo tính chất chuẩn bị cho cuộc sống và lao động, người ta phân biệt đào tạo chuyên môn và đào tạo nghề nghiệp. Hai loại này gắn bó và hỗ trợ nhau với những nội dung do các đòi hỏi của sản xuất, của các quan hệ xã hội, của tình trạng khoa học, kỹ thuật - công nghệ và văn hoá của đất nước.